vanban.org

Bản án 205/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Kiều D.

Về hôn nhân: Chị Lê Thị Kiều D được ly hôn với anh Võ Tạo T. Giấy chứng nhận kết hôn số 135 ngày 27-8-2012 của Ủy ban nhân dân phường T, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con chung giữa chị D và anh T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Kiều D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Toà án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 205/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 11-6-2019
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Giao

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Kim Thảo

2. Ông Mai Hòa Phúc

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Thu Hồng Em - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 366/2018/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2018 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 62/2019/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Lê Thị Kiều D, sinh năm: 1993; Địa chỉ: Số nhà X, tổ Y, khu phố A, phường T, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn: Võ Tạo T, sinh năm: 1992; Địa chỉ: Ấp V2, xã N, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 21-11-2018, quá trình tố tụng nguyên đơn chị Lê Thị Kiều D trình bày:

- Về hôn nhân: Chị Lê Thị Kiều D và anh Võ Tạo T tự tìm hiểu và và tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2012, anh chị đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 27-8-2012. Thời gian đầu chung sống, anh T luôn có trách nhiệm với gia đình, nhưng đến năm 2015 thì anh T trở nên lười biếng lao động, thường xuyên uống rượu, bỏ nhà đi thời gian dài, bỏ mặc chị tự lo cho hai con. Cha mẹ chị D có nhiều lần khuyên răn nhưng anh T không thay đổi mà còn nhiều lần xúc phạm cha mẹ vợ. Chị D nhận thấy hôn nhân của anh chị không còn hạnh phúc, mâu thuẫn không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với anh T.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Võ Minh L, sinh ngày 17-10-2012 và Võ Thị Quyền N, sinh ngày 19-10-2015, hiện hai cháu đang sống với chị D, sau khi ly hôn, chị D có yêu cầu được tiếp tục nuôi hai con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

* Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn anh Võ Tạo T nhưng anh T đều vắng mặt đồng thời không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án tiến hành các thủ tục xác minh, lấy lời khai nhưng bị đơn không có mặt tại nhà khi cán bộ Tòa án đến, nên không lấy được lời khai của bị đơn.

* Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt gửi Tòa án vào ngày 10/6/2019 .

- Bị đơn vắng mặt, không có ý kiến trình bày.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu:

+ Về chấp hành pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị D ly hôn với anh T, giao hai con chung cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

1.1 Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Chị D có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành giải quyết về ly hôn, tranh chấp về con chung theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; tại biên bản xác minh ngày 17-4-2019, Công an xã N xác nhận anh T hiện có đăng ký hộ khẩu tại ấp V2, xã N, huyện C, tỉnh An Giang, anh T hiện đi làm ăn xa nhưng có thường xuyên về thăm nhà. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

1.2 Về sự có mặt của đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn đến Tòa án để tham gia phiên toà xét xử vụ án nhưng bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do; Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

Về nội dung tranh chấp:

2.1 Về hôn nhân: Chị D và anh T có làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình và được Ủy ban nhân dân phường T, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 135 ngày 27-8-2012. Như vậy, hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ khi xảy ra tranh chấp. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhằm tạo điều kiện cho chị D và anh T được đoàn tụ, nhưng chị D cương quyết ly hôn, anh T đều vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, điều này chứng tỏ anh T cũng không có nguyện vọng được đoàn tụ với chị D. Như vậy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D.

2.2 Về con chung: Chị D trình bày anh chị có 02 con chung tên Võ Minh L, sinh ngày 17-10-2012 và Võ Thị Quyền N, sinh ngày 19-10-2015, hiện hai cháu đang sống với chị D, sau khi ly hôn, chị D có yêu cầu được tiếp tục nuôi hai con, anh T không có ý kiến trình bày. Hội đồng xét xử nhận thấy hiện nay hai cháu L và N đều đang sống với chị D, để cho cuộc sống của các cháu được ổn định, không bị xáo trộn. Căn cứ vào quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị D, giao hai cháu L và N cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị D không yêu cầu nên anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị D và gia đình phải tạo điều kiện cho anh T trong việc thực hiện nghĩa vụ, quyền của cha mẹ đối với con chung theo quy định tại Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

2.3 Về tài sản chung và nợ chung: Chị D không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị D là nguyên đơn nên phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Kiều D.

- Về hôn nhân: Chị Lê Thị Kiều D được ly hôn với anh Võ Tạo T.

Giấy chứng nhận kết hôn số 135 ngày 27-8-2012 của Ủy ban nhân dân phường T, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh không còn giá trị pháp lý.

- Về con chung: Chị Lê Thị Kiều D được quyền nuôi hai chung tên Võ Minh L, sinh ngày 17-10-2012 và Võ Thị Quyền N, sinh ngày 19-10-2015.

Anh Võ Tạo T không cấp dưỡng nuôi con do chị Lê Thị Kiều D không yêu cầu.

Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Việc nuôi con có thể bị thay đổi dựa trên cơ sở lợi ích của con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí sơ thẩm: Chị Lê Thị Kiều D phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013995 ngày 18-12-2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Quyền kháng cáo: Chị Lê Thị Kiều D và anh Võ Tạo T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ