- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly Hôn"
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 205/2018/HNGĐ_ST Ngày: 18/7/2018 V/v: Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Minh Nhựt
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trang Văn Hai – Cán bộ hưu trí
2. Bà Huỳnh Thị Kim Kiên – Cán bộ Hội liên Hiệp phụ nữ Tp.Biên Hòa
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thu Thương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2018, tại Hội trường 06 – Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 48/2018/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2018 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 138/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn La Kim X, sinh năm 1986
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Y, sinh năm 1981
Địa chỉ: 220/41, Kp.04, P.Tân Tiến, Tp.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
(Bà X xin vắng mặt, ông Y vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Nguyễn La Kim X trình bày: Năm 2010, bà cùng ông Nguyễn Văn Y tự nguyện kết hôn và đã làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND phường Tân Tiến, Tp.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Ngày 14/01/2010, UBND xã phường Tân Tiến đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 08, quyển số 01/2010 cho vợ chồng ông bà. Tuy nhiên, sau thời gian chung sống được 01 năm thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do tính cách không hòa hợp, không thể chung sống cùng nhau. Thực tế, khi con chung được 06 tháng tuổi, thì vợ chồng đã ly thân cho đến nay. Hiện nay, tôi và ông Y không còn tình cảm gì và không thể hàn gắn đoàn tụ. Do đó, đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng tôi được ly hôn.
Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn Tống Như Ngọc, sinh ngày 31/8/2011. Khi ly hôn tôi đồng ý giao con chung cho ông Y trực tiếp nuôi dưỡng, tôi không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng khi ly hôn bà X xác định là không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết
Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định tuy nhiên ông Nguyễn Văn Y không thực hiện các nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự, không đến Tòa án làm việc nên không có ý kiến của của ông Y về việc giải quyết vụ án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai:
Về việc tuân thủ quy định của thẩm phán, thư ký, hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của bị đơn là không đúng quy định tại các Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
1. Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự và thẩm quyền giải quyết:
- Nguyên đơn bà Nguyễn La Kim X khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn Y đối chiếu Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xác định quan hệ pháp luật của vụ án là tranh chấp ly hôn. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định bà Nguyễn La Kim X là nguyên đơn, ông Nguyễn Văn Y là bị đơn trong vụ án
- Bà X và ông Y có hộ khẩu thường trú tại phường Tân Tiến, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ các điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
2. Về thủ tục tố tụng khác: Nguyên đơn bà X có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Y đã được Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ đến tham dự phiên tòa lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, không có lý do; căn cứ khoản 01, điểm b khoản 02 Điều 227, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử theo thủ tục vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
3. Nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn La Kim X và ông Nguyễn Văn Y tự nguyện kết hôn, có làm thủ tục đăng ký kết hôn và đã được UBND phường Tân Tiến, Tp.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận đăng ký kết số 08, quyển số 01/2010 ngày 14/01/2010 nên được xác định là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Bà X xác định do bất đồng về quan điểm sống nên cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, dù nhiều lần cố gắng hòa giải đoàn tụ nhưng không có kết quả. Thực tế các bên đã sống ly thân nhau từ năm 2012. Nay bà X xác định không còn tình cảm với ông Y và cương quyết đề nghị Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Y. Theo biên bản xác minh ngày 16/5/2018 tại địa phương xác định vợ chồng bà X, ông Y có mâu thuẫn và sống ly thân là có thật. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Y không đến Tòa án làm việc không thực hiện nghĩa vụ của bị đơn, cũng như không có ý kiến gì, từ đó cho thấy ông Y có ý bỏ mặc việc Tòa án giải quyết quan hệ hôn nhân giữa hai người. Từ những phân tích trên cho thấy, yêu cầu xin ly hôn của bà X là có cơ sở chấp nhận.
- Về con chung: bà X và ông Y 01 con chung là Nguyễn Tống Như Ngọc, sinh ngày 31/8/2011. Khi ly hôn bà X đồng ý giao con chung cho ông Y trực tiếp nuôi dưỡng, không cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy con chung hiện ông Y đang nuôi dưỡng, để đảm bảo sự ổn định nên giao quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho ông Y là phù hợp.
- Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng khi ly hôn bà X xác định là không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét. Tuy nhiên, do ông Y không có ý kiến nên không thể xác thực về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng, do đó các đương sự được quyền khởi kiện đối với phần này bằng một vụ án khác khi có yêu cầu
- Về án phí: Bà Nguyễn La Kim X phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH;
Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 68, 227, 266 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn La Kim X đối với bị đơn ông Nguyễn Văn Y về việc tranh chấp ly hôn.
Tuyên xử:
Bà Nguyễn La Kim X, sinh năm 1986 được ly hôn với ông Nguyễn Văn Y, sinh năm 1981
Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Tống Như Ngọc, sinh ngày 31/8/2011cho ông Nguyễn Văn Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Bà Nguyễn La Kim X được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản. Trong trường hợp cần thiết một trong các bên có quyền xin thay đổi quyền trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng khi ly hôn các đương sự được quyền khởi kiện bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
Về án phí: Bà Nguyễn La Kim X phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Hai trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 003845 ngày 19/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. Bà X đã nộp đủ án phí theo quy định.
Bà X, ông Y được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND Tp. Biên Hòa; - Chi cục THADS Tp.Biên Hòa - UBND P.Tân Tiến - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Minh Nhựt |