vanban.org

Bản án 205/2017/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND huyện Đức Hòa, tỉnh Long An Tuyên án 28/09/2017 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” đối với anh Huỳnh Văn H.

Buộc anh Huỳnh Văn H trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền 79.792.000đồng (trong đó tiền gốc còn lại là 54.023.095 đồng và lãi là 25.768.905 đồng). Án phí: Anh Huỳnh Văn H phải chịu 3.989.600 đồng (Ba triệu chín trăm tám mươi chín ngàn sáu trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Dân sự"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” đối với anh Huỳnh Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 205 /2017/DS-ST
Ngày: 28 - 9 -2017.
V/v tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Bình An.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Kiến

2. Bà Trương Thị Kim Tiến

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thoa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Còn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 136/2017/TLST-DS ngày 30 tháng 3 năm 2017 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 287/2017/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 8 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 157/2017/QĐST-DS ngày 08/9/2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V.

Trụ sở: phố T, phường H, quận K, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Lê Hiền T – Trưởng phòng thu hồi nợ pháp lý kiêm Quản lý pháp chế cho Phòng An Ninh và Phòng Kiểm soát gian lận, Phòng thu hồi nợ pháp lý, Trung tâm thu hồi nợ - Khối Tín dụng tiêu dùng. (Văn bản ủy quyền số 06/2017/UQ-CT ngày 08/02/2017).

Địa chỉ: Đường H, phường N, Quận M, thành phố Hồ Chí Minh

Ủy quyền lại cho: Anh Nguyễn Hoàng P, sinh năm: 1980. (có mặt)

Địa chỉ: P S, quận G, thành phố Hồ Chí Minh. (Văn bản ủy quyền số 9/2017/UQ-GĐK-TDTD ngày 20/02/2017)

2. Bị đơn: Anh Huỳnh Văn H, sinh năm: 1974 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện H, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 02 năm 2017 và các lời khai của anh Nguyễn Hoàng P đại diện cho Ngân hàng TMCP V trình bày như sau:

Vào ngày 08/9/2014, Ngân hàng TMCP V có ký Hợp đồng tín dụng số 20140917-500000-0120 với anh Huỳnh Văn H cho anh H vay số tiền vốn là 63.000.000đồng (Sáu mươi ba triệu đồng), lãi suất 2.92%/tháng, mục đích vay là tiêu dùng cá nhân, phương thức thanh toán trả dần. Theo đó, anh H có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng số tiền 102.592.000 đồng (gồm cả gốc và lãi) trong thời hạn 36 tháng, mỗi tháng trả 2.850.000đồng, tháng cuối cùng trả 2.842.000đồng. Bắt đầu thanh toán từ 18/10/2014. Sau khi ký hợp đồng, Ngân hàng đã giao đủ số tiền vay cho anh H.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, anh H đã thanh toán cho Ngân hàng được 08 tháng được số tiền 22.800.000đồng. Từ ngày 26 tháng 8 năm 2015 anh H ngưng, không tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng nữa. Số tiền anh H chưa thanh toán theo hợp đồng là 79.792.000đồng (trong đó tiền gốc còn lại là 54.023.095 đồng và lãi là 25.768.905 đồng).

Nay anh đại diện Ngân hàng TMCP V yêu cầu anh Huỳnh Văn H trả số tiền là 79.792.000đồng (trong đó tiền gốc còn lại là 54.023.095 đồng và lãi là 25.768.905 đồng). Ngoài ra, Ngân hàng không còn yêu cầu gì khác.

Tại lời trình bày của anh Huỳnh Văn H: Anh xác nhận anh có ký hợp đồng tín dụng số 20140917-500000-0120 ngày 08/9/2014 với Ngân hàng TMCP V để vay số tiền 60.000.000 đồng và 3.000.000 đồng phí bảo hiểm dư nợ tín dụng cá nhân để đảm bảo vốn cho ngân hàng khi khách hàng xảy ra tai nạn, lãi suất và cách thức thanh toán đúng như lời trình bày của Ngân hàng. Sau khi vay, anh thanh toán cho Ngân hàng được 08 tháng (mỗi tháng trả 2.850.000 đồng) được số tiền 22.800.000đồng. Tuy nhiên, sau đó anh nhiều lần yêu cầu phía ngân hàng cung cấp hợp đồng bảo hiểm, nhưng ngân hàng không cung cấp, nên anh thanh toán tiền được 08 tháng thì ngưng không thanh toán cho đến nay.

Ngày 01/02/2016, anh bị tai nạn lao động tại nơi làm việc, tỷ lệ suy giảm khả năng lao động là 33% vĩnh viễn. Anh có liên hệ ngân hàng yêu cầu cung cấp hợp đồng bảo hiểm tai nạn để được hưởng quyền lợi do bị tai nạn nhưng ngân hàng không thực hiện.

Nay, anh xác định số tiền anh còn nợ Ngân hàng TMCP V số tiền là 79.792.000đồng (trong đó tiền gốc còn lại là 54.023.095 đồng và lãi là 25.768.905 đồng) anh không đồng ý trả vì anh bị tai nạn thương tật vĩnh viễn 33% nên anh phải được công ty bảo hiểm chi trả tiền vay cho ngân hàng.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải vụ án nhưng các đương sự không thỏa thuận được với nhau.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa xác định rằng quá trình thụ lý giải quyết vụ án cấp sơ thẩm tuân thủ theo đúng trình tự thủ tục theo qui định của pháp luật.

Về nội dung; tại phiên tòa hôm nay anh Huỳnh Văn H vắng mặt, nhưng qua lời trình bày của anh P đại diện cho ngân hàng và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do Ngân hàng cung cấp; thấy rằng qua yêu cầu của Ngân hàng là có căn cứ, đền nghị hội đồng xét xử tuyên; Buộc anh Huỳnh Văn H có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền là 79.792.000đồng (trong đó tiền gốc còn lại là 54.023.095 đồng và lãi là 25.768.905 đồng) là phù hợp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V đối với anh Huỳnh Văn H. Hội đồng xét thấy quan hệ pháp luật cần giải quyết là: Tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”, Ngân hàng TMCP V có quyền khởi kiện theo quy định tại Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự, và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa theo quy định tại Điều 26, 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Huỳnh Văn H vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nên theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ và lời trình bày của anh Nguyễn Hoàng P tại phiên tòa , thấy rằng giữa Ngân hàng TMCP V với anh Huỳnh Văn H có ký kết hợp đồng tín dụng số số 20140917-500000-0120 ngày 08 tháng 9 năm 2014 để anh H vay số tiền 63.000.000 đồng; theo đó, tổng số tiền gốc và lãi anh H phải thanh toán là ngân hàng là 102.592.000 đồng. Thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng, anh H đã thanh toán cho Ngân hàng được 08 tháng với số tiền 22.800.000đồng, nhưng sau đó ngưng không tiếp tục thanh toán cho đến nay là đã vi phạm hợp đồng tín dụng nên ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh H thực hiện toàn bộ nghĩa vụ còn lại trong hợp đồng tín dụng là có căn cứ. Số tiền anh H chưa thanh toán cho ngân hàng là 79.792.000đồng (trong đó tiền gốc còn lại là 54.023.095 đồng và lãi là 25.768.905 đồng). Tại phiên tòa hôm nay, anh H vắng mặt nhưng tại bản tự khai và biên bản hòa giải anh H thừa nhận việc ký hợp đồng tín dụng, số tiền đã vay cũng như số tiền nợ còn lại.

Ngoài ra anh H cho rằng khi ký hợp đồng tín dụng để vay tiền trên, đồng thời anh mua một bảo hiểm dư nợ tín dụng để đảm bảo tiền vốn cho vay của ngân hàng trong trường hợp khách hàng xảy ra tai nạn. Việc này được ngân hàng và công ty cổ phần Bảo hiểm V thừa nhận. Trong thời gian thực hiện hợp đồng, anh H bị tai nạn lao động gây thương tật 33% vĩnh viễn. Tuy nhiên, căn cứ vào công văn số 100/2017/CV-VASS/TGĐ ngày 21/8/2017 của công ty cổ phần Bảo hiểm V thì anh H bị tai nạn tỷ lệ thương tật 33% vĩnh viễn không phải toàn bộ vĩnh viễn nên không thuộc phạm vi trách nhiệm theo hợp đồng bảo hiểm dư nợ tín dụng cá nhân đã giao kết. Từ đó, xét thấy, ý kiến của anh H về việc không đồng ý thanh toán cho ngân hàng do anh được bảo hiểm tiển vay là không có căn cứ; do đó anh H vẫn có nghĩa vụ phải thanh toán số tiền còn nợ cho ngân hàng TMCP V.

Từ những phân tích trên, xét yêu cầu của Ngân hàng TMCP V yêu cầu anh H trả số tiền 79.792.000đồng (trong đó tiền gốc còn lại là 54.023.095 đồng và lãi là 25.768.905 đồng) là có căn cứ.

Ngoài ra, Ngân hàng không yêu cầu tính lãi suất phát sinh từ khi hết thời hạn thanh toán theo hợp đồng cho đến ngày xét xử sơ thẩm và lãi suất phát sinh do chậm thi hành án nên Tòa án không xem xét là phù hợp.

Anh Huỳnh Văn H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 26, 35, 186, 273, 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự;

Áp dụng khoản 2 Điều 91, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng.

Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” đối với anh Huỳnh Văn H.

Buộc anh Huỳnh Văn H trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền 79.792.000đồng (trong đó tiền gốc còn lại là 54.023.095 đồng và lãi là 25.768.905 đồng).

Án phí: Anh Huỳnh Văn H phải chịu 3.989.600 đồng (Ba triệu chín trăm tám mươi chín ngàn sáu trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.

Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP V số tiền 1.941.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0000268 ngày 29 tháng 3 năm 2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.

Ngân hàng TMCP V có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Huỳnh Văn H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ bản án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ