- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Phan Quốc H - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo LPQH 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 204/2025/HSPT Ngày: 28-5-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Vân
Các Thẩm phán:
1. Bà Phạm Uyên Thy
2. Bà Lê Thị Thương Huyền
-Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Hải Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 119/2025/HSPT ngày 02/4/2025 đối với bị cáo LPQH, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Tp. Hồ Chí Minh.
Bị cáo có kháng cáo:
LPQH, sinh năm 2004 tại tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký HKTT: Thôn ĐN, xã ĐM, huyện ĐM, tỉnh ĐN; Nơi cư trú: XXX/Y/ZZ VK, Phường 3, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Nhân viên Công ty kỹ thuật TM DP; Con ông LQT và bà PTKH; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Đậu Đức Ninh, Công ty Luật TNHH MTV Thành Danh thuộc Đoàn luật sư tỉnh Bình Dương (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 14/3/2024, LPQH điều khiển xe mô tô Honda Vario, biển số XXXX - XXX.XX lưu thông trên đường Nơ Trang Long hướng từ đường Phan Đăng Lưu về đường Lê Quang Định. Khi đến trước nhà số XX đường NTL, Phường XX, quận BT, do không chú ý quan sát nên H va chạm vào bà NTHM đang dẫn bộ xe đạp đi phía trước cùng chiều làm bà M bị thương và được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện nhân dân Gia Định đến 08 giờ 30 phút ngày 18/3/2024 thì tử vong. Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là đoạn thẳng trải nhựa bằng phẳng có bề rộng toàn tuyến là 13m được phân chia 02 phần đường bằng vạch sơn trắng không liên tục mỗi bên 6m50 áp dụng cho mọi loại xe lưu thông hỗn hợp theo quy định của luật Giao thông đường bộ. Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số 3691-24/KL-KTHS ngày 01/4/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an TP. Hồ Chí Minh kết luận: Các kết quả chính: Vùng đầu: Xây xát da trái phải, trên cung mày trái, gò má trái và mũi. Bầm tụ máu đỉnh phải. Xây xát da, bầm tụ máu chẩm trái. Bên trong: + Tụ máu dưới da đầu vùng trán – đỉnh phải và đỉnh chẩm hai bên. Tụ máu trong cơ thái dương bên trái. Vỡ xương chẩm bên trái và vỡ thân xương bướm. + Máu tụ dưới màng cứng thùy trán hai bên. Dập não thùy trán và thùy thái dương hai bên. Xuất huyết dưới nhện lan tỏa hai bán cầu đại não. Tụ máu trong thân não. Nhu mô não mất các nếp nhăn, mềm nhũn Kết luận: Nguyên nhân chết: chết do chấn thương sọ não Tại Kết luận giám định số 4339/KL-KTHS ngày 29/5/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Không đủ cơ sở kết luận dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số XXXX - XXX.XX và xe đạp; không xác định được tốc độ của xe mô tô biển số XXXX - XXX.XX và xe đạp ngay trước khi xảy ra tai nạn. Tại cơ quan điều tra, bị cáo LPQH đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên. Vật chứng thu giữ:
- 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên LPQH.
- 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên DHH.
- 01 xe mô tô Honda Vario, biển số: XXXX - XXX.XX, số khung: MH1KF4110KK658618, số máy: KF41E1659295. Xác minh được biết chiếc xe trên do ông DHH đứng tên chủ sở hữu. Ông H cho biết đã bán xe máy trên cho 01 cửa hàng xe máy (không nhớ tên và địa chỉ) vào tháng 6/2023. H mua lại chiếc xe trên tại cửa hàng xe máy TT (có làm giấy mua bán).
- 01 xe đạp không rõ nhãn hiệu của bà NTHM. Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Nguyễn M Thy (con ruột của bà M). (Tất cả vật chứng đã được xử lý tại Bản án sơ thẩm số 45/2025/HSST ngày 18/02/2025 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Tp. Hồ Chí Minh).
Về trách nhiệm dân sự: Tất cả chi phí điều trị, viện phí và M táng của bị hại NTHM do bên gia đình bị cáo bồi thường và chi trả nên gia đình bà không có yêu cầu gì thêm.
Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2025/HSST ngày 18/02/2025 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Tp. Hồ Chí Minh đã tuyên bố bị cáo LPQH phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo LPQH 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025, bị cáo LPQH có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo để được đi học và chăm sóc chị gái bị bệnh suy thận giai đoạn cuối.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo LPQH giữ nguyên nội dung kháng cáo, xin được giảm nhẹ hình phạtvà cho hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: Với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo LPQH phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 khi xét xử bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật. Sau xét xử bị cáo có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo, đơn kháng cáo làm trong thời hạn luật định, nên hợp lệ. Mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo có bổ sung đơn xác nhận gia đình có hoàn cảnh khó khăn, cha mẹ bị cáo thường xuyên đau ốm, chị của bị cáo bị suy thận giai đoạn cuối, bị cáo bổ sung đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự của phía đại diện hợp pháp của bị hại đối với bị cáo đây là tình tiết mới của vụ án nên cho bị cáo áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, đủ điều kiện được hưởng án treo đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo LPQH 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất với tội danh và điều khoản truy tố đối với bị cáo. Mức hình phạt cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là có phần nghiêm khắc. Bản thân bị cáo phạm tội lần đầu, không có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt, chấp hành tốt quy định của pháp luật khi được tại ngoại, bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, gia đình có hoàn cảnh khó khăn và đang chăm sóc cha mẹ già thường xuyên đau ốm, chị gái bị bệnh suy thận giai đoạn cuối, phía bị hại có đơn bãi nại miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo đã đủ điều kiện hưởng án treo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo LPQH không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, nói lời sau cùng bị cáo chỉ xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Sau xét xử sơ thẩm, ngày 18 tháng 02 năm 2025, bị cáo có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo. Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm. [2] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo LPQH thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 14/3/2024, bị cáo LPQH điều khiển xe mô tô biển số XXXX - XXX.XX lưu thông trên đường Nơ Trang Long hướng từ đường Phan Đăng Lưu về đường Lê Quang Định. Khi đến trước nhà số XX đường NTL, Phường XX, quận BT, do không chú ý quan sát nên H va chạm vào bà NTHM đang dẫn bộ xe đạp đi phía trước cùng chiều làm bà M bị thương và được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện nhân dân Gia Định đến 08 giờ 30 phút ngày 18/3/2024 thì bà M tử vong. Hành vi của bị cáo LPQH đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và cấp sơ thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật. [3] Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Tại phiên tòa cũng như suốt quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường cho phía bị hại, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, do đó cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bô luật Hình sự là có căn cứ. Bị cáo nộp bổ sung đơn của đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, cha của bị cáo bị tai biến, còn chị gái của bị cáo bị suy thận, xét thấy đây là tình tiết mới của vụ án nên áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Nhận thấy, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có công việc ổn định, đồng thời bị cáo đã bồi thường toàn bộ cho gia đình bị hại, phía bị hại có đơn bãi nại đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Xét thấy, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo tạo điều kiện cho bị cáo làm lại cuộc đời, tự cải sửa bản thân cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo.
Đây cũng là lập luận để chấp nhận quan điểm đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và phần bào chữa của luật sư.
Các nội dung khác của Bản án hình sự sơ thẩm do không bị kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Do chấp nhận kháng cáo, nên bị cáo LPQH không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, sửa bản án sơ thẩm số 45/2025/HSST ngày 18/02/2025 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo LPQH 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo LPQH cho Ủy ban nhân dân Phường 3, Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Trong trường hợp bị cáo thay đổi địa chỉ thì thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này 3. Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án, lệ phí Tòa án: Bị cáo LPQH không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm. Các nội dung khác của Bản án hình sự sơ thẩm do không bị kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo LPQH.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - TANDTC; (1) - TAND Cấp Cao tại Tp.HCM; (1) - VKSND Cấp cao tại Tp.HCM; (1) - VKSND TP.HCM; (3) - PV06 - CA Tp.HCM; (1) - VKSND quận Bình Thạnh; (1) - TAND quận Bình Thạnh; (1) - Chi cục THADS quận Bình Thạnh; (1) - Bị cáo; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (2) - Sở Tư pháp; (1) - Lưu Tòa Hình sự, hồ sơ (21). (6) | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bích Vân |