vanban.org

Bản án 204/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 24/09/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Lò Văn L phạm tội: Tàng tr trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Lò Văn L 18 (Mư i tám) tháng tù Th i hạn tù tính t ngày 16/6/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật hình sự Tuyên bố
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUẬN CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 204/2024/HSST
Ngày: 24/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lư ng Tiến Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đặng Xuân Tư.

Ông Phạm Ngọc Thiệp.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Tiến Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Bích Nguyệt - Kiểm sát viên

Ngày 24/9/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuận Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 206/2024/TLST-HS ngày 11/9/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 210/2024/QĐXXST-HS ngày 12/9/2024 đối với bị cáo:

Lò Văn L; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 06/10/2004 tại xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản D, xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Văn P, sinh năm: 1980 và bà: Lư ng Thị T, sinh năm: 1982; Bị cáo có chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo b t, tạm gi , tạm giam t ngày 16/6/2024 cho đến nay, có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

Hồi 11 gi 00 phút, ngày 16/6/2024 tổ công tác Công an xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu làm nhiệm vụ tại khu vực bản H, xã T, huyện Thuận Châu phát hiện b t quả tang Lò Văn L có hành vi Tàng tr trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng. Vật chứng thu gi gồm: Một gói nilon màu xanh bên trong có chứa chất bột cục màu tr ng nghi là Heroine (L khai nhận là Heroine).

Ngày 16/6/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La đã tiến hành bóc mở niêm phong cân tịnh số chất bột cục màu tr ng thu gi của Lò Văn L khối lượng 0,16 gam trích rút toàn bộ 0,16 gam ( ký hiệu L1) gửi giám định chất và loại ma túy. Đồng th i ra Quyết định trưng cầu phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định chất và loại ma túy

Tại Kết luận giám định số: 1301/KL-KTHS ngày 18/6/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu L1 là ma túy loại Heroine, có tên khoa học là Diacentymorphine khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,16 gam. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu, Lò Văn L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau:

Khoảng 14 gi 00 phút, ngày 16/6/2024 Lò Văn L đi bộ t nhà ở bản Dẹ, xã T, huyện Thuận Châu đi đến bản Hợp Nhất 1, xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy về sử dụng Khi đi đến đây L gặp và hỏi mua của ngư i đàn ông dân tộc Thái (L không biết tên, tuổi, địa chỉ) mua được một gói nilon màu xanh bên trong có chứa Heroine với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy L cất vào túi quần đằng trước bên phải đang mặc rồi đi bộ về nhà. Khi đi đến khu vực bản Hợp Nhất 2, xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La thì bị Tổ công tác Công an xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu yêu cầu kiểm tra ma túy, quá trình kiểm tra Tổ công tác đã phát hiện và thu gi vật chứng như đã nêu trên Tổ công tác đã đưa Lò Văn L về trụ sở UBND xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu lập biên bản b t ngư i có hành vi phạm tội quả tang Sau đó, Tổ công tác dẫn giải Lò Văn L về Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu xử lý theo quy định của pháp luật

Tại bản cáo trạng số: 157/CT-VKS-TC ngày 11/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu đã truy tố Lò Văn L về tội tàng tr trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay Lò Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu đã truy tố và th a nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo Lò Văn L về tội Tàng tr trái phép chất ma túy là đúng ngư i, đúng tội

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu gi quyền công tố tại phiên toà trình bày l i luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố Lò Văn L phạm tội Tàng tr trái phép chất ma túy

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Lò Văn L t 18 đến 24 tháng tù. Th i hạn tù tính t ngày 16/6/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy: Một phong bì niêm phong có viền màu xanh, đỏ bên trong có: 01 mảnh nilon màu xanh + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.

Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200 000 đồng

Ý kiến của bị cáo Lò Văn L: Nhất trí như l i luận tội của đại diện Viện kiểm sát, trong l i nói sau cùng của bị cáo th a nhận hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt chính cho bị cáo, xin miễn hình phạt bổ sung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng

Về hành vi phạm tội của bị cáo Lò Văn L nhận thấy: Ngày 16/6/2024 tại khu vực bản Hợp Nhất 2, xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Lò Văn L đã có hành vi Tàng tr trái phép chất ma túy 0,16 gam loại Heroine, có tên khoa học là Diacentymorphine nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân bị cáo thì bị phát hiện, b t quả tang

Tại phiên tòa bị cáo gi nguyên l i khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát L i khai của bị cáo phù hợp với:

L i khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra, Biên bản b t ngư i phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong kiểm tra vật chứng và niêm phong lại; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong; Kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La.

T các căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận hành vi cất gi trái phép 0,16 gam loại Heroine, có tên khoa học là Diacentymorphine nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân bị cáo thì bị phát hiện, b t quả tang đã phạm vào tội Tàng tr trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trư ng hợp nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương Do đó cần có mức hình phạt tương xứng nhằm răn đe giáo dục đối với bị cáo, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo phạm tội lần đầu chưa có tiền án, tiền sự.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo không có tài sản riêng , không có khả năng thi hành nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo Lò Văn L khai nhận mua của một ngư i đàn ông dân tộc Thái (L không biết tên, tuổi, địa chỉ) tại khu vực bản Hợp Nhất 1, xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La mua được một gói Heroine được gói bằng nilon màu xanh với giá 100.000 đồng vào ngày 16/6/2024 nhưng do L không biết họ tên, tuổi và địa chỉ cư trú của ngư i đàn ông này, chỉ có l i khai duy nhất của L do vậy cơ quan điều tra không có đủ căn cứ điều tra, xử lý.

Vật chứng vụ án: Đối với một phong bì niêm phong có viền màu xanh, đỏ bên trong có: 01 mảnh nilon màu xanh + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu là công cụ phạm tội, không có giá trị sử dụng do đó cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200 000 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự

Tuyên bố bị cáo Lò Văn L phạm tội: Tàng tr trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lò Văn L 18 (Mư i tám) tháng tù Th i hạn tù tính t ngày 16/6/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu tiêu hủy: Một phong bì niêm phong, có viền màu xanh đỏ, bên trong có: 01 mảnh nilon màu xanh + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu (Mô tả chi tiết theo khoản 1 biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/9/2024 gi a Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Thuận Châu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Châu).

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200 000 đồng (Hai trăm nghìn đồng)

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể t ngày tuyên án./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Sơn La;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND (02 bản);

- Sở Tư pháp tỉnh Sơn La

- CA huyện Thuận Châu;

- Chi cục THADS huyện Thuận Châu;

- Nhà tạm gi , trại tạm giam;

- Bị cáo;

- Lưu án văn;

- Lưu:Hồ sơ

Lường Tiến Hải

Cỡ chữ