vanban.org

Bản án 204/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 22/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tạm giam bị cáo: Lê Văn Hảo ( tức Lê Văn Dân), sinh năm 1990;

Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn Nguyễn, xã Trung Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt: 02 ( hai) năm tù về tội trộm cắp tài sản. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý làm hư hỏng tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 143 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tạm giam bị cáo: Lê Văn Hảo ( tức Lê Văn Dân), sinh năm 1990;
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT Y
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 204/2022/HSST
Ngày 22-11-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Ngọc

Ông Nguyễn Ngọc Vân

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Trang- Thư ký Toà án nhân dân huyện V, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Công- Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện V, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án hình sự thụ lý số 201/2022/TLST- HS ngày 14 tháng 10 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 201/2022/QĐXXST- HS ngày 02 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Ngô Văn H, sinh năm 1995; tại huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn C, xã D, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ngô Văn H và bà: Vũ Thị Th; có vợ: Thân Thị Tr ( đã ly hôn) và 01 con, sinh năm 2007; tiền án:

-Bản án số 97 ngày 18/10/2012, của Toà án nhân dân huyện L xử phạt 36 tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Bản án số 102 ngày 29/10/2012, của Toà án nhân dân huyện L xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù của cả hai bản án ngày 11/4/2016.

-Bản án số 21 ngày 21/4/2017, của Toà án nhân dân huyện L xử phạt 05 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/10/2021.

Tiền sự: Chưa có;

Nhân thân: Bản án số 87/2022/HS- ST ngày 28/9/2022, của Toà án nhân dân huyện L xử phạt 02 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo Bản án số 87/2022/ HS-ST ngày 28/9/2022, của Toà án nhân dân huyện L, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang theo Quyết định tạm giam của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang ( có mặt)

- Bị hại: Anh Thân Văn T, sinh năm 1991; cư trú tại: Thôn Ph, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang ( vắng mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Ngô Thị Mai L, sinh năm 1998; cư trú tại: Thôn Ph, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang ( vắng mặt).

Người làm chứng: Anh Lê Xuân H ( vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngô Văn H, sinh năm 1995, trú tại thôn C, xã D, huyện L, tỉnh Bắc Giang đang có tiền án về các tội “Cướp tài sản”, “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 168 và Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Ngày 18/3/2022, Ngô Văn H đến ở nhờ tại phòng trọ của bạn là chị Phạm Thị H, sinh năm 1994, trú tại tổ dân phố M thị trấn Nh, huyện Y, tỉnh Bắc Giang đang thuê trọ tại thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Khoảng 02 giờ ngày 19/3/2022, H đem theo 01 vam phá khóa bằng kim loại, hình chữ “T”, một đầu dẹt dài khoảng 20cm, đi bộ từ phòng trọ ra đường giao thông quanh thôn B, xã T tìm ai để tài sản sơ hở thì trộm cắp. Khoảng 02 giờ 45 phút cùng ngày 19/3/2022, H đi tới đoạn đường trước cửa nhà anh Thân Văn T, sinh năm 1991, ở thôn Ph, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang, thấy chiếc xe ô tô nhãn hiệu Suzuki XL7, biển số 98A-354.74 của anh T đỗ ở rìa đường, trước cửa nhà, xung quanh không có người trông coi. H đi đến đầu xe ô tô phát hiện trong xe không có người, tại mặt táp lô, vị trí dưới kính chắn gió trước bên phải xe ô tô có một tệp tiền gồm các tờ tiền có mệnh giá khác nhau nên tìm cách trộm cắp số tiền này. H dùng vam phá khóa bằng kim loại mang theo trước đó đâm vỡ thủng góc kính chắn gió trước xe ô tô tại vị trí phía trên mặt táp lô để tiền rồi H cho bàn tay phải qua lỗ kính vỡ lấy toàn bộ số tiền để trên mặt táp lô xe ô tô đút vào túi quần. Khi lấy tiền, H bị cạnh sắc kính ô tô vỡ làm xước ra, chảy máu rớt lên kính xe ô tô. Sau đó, H bỏ đi về phòng trọ của chị H ngủ; trên đường về H đếm số tiền vừa lấy được tổng cộng 1.500.000 đồng, bao gồm các tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 200.000 đồng, 100.000 đồng, 50.000 đồng còn số lượng từng tờ không nhớ đồng thời H vứt vam phá khóa đi. Toàn bộ số tiền trộm cắp được H đã chi tiêu cá nhân hết.

Khoảng 08 giờ ngày 19/3/2022, anh T phát hiện chiếc xe ô tô nhãn hiệu Suzuki-XL7, biển số 98A- 354.74 của anh bị đập vỡ kính chắn gió phía trước và bị trộm cắp tiền nên trình báo đến Công an xã T, huyện V. Công an xã T chuyển vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V điều tra theo thẩm quyền.

Ngày 19/3/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V khám nghiệm hiện trường đối với vụ cố ý làm hư hỏng tài sản và trộm cắp tài sản nêu trên. Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện, hiện trường bị xáo trộn một phần; kính xe ô tô nhãn hiệu Suzuki-XL7, biển số 98A- 354.74 bị vỡ thủng có kích thước (9x10)cm; thu giữ được dấu vết máu tại vị trí kính chắn gió trước của xe ô tô và dấu vết đường vân tại vị trí kính xe ô tô bị vỡ. Thu giữ tại camera an ninh lắp ở cửa nhà anh T hình ảnh đối tượng phá kính xe ô tô rồi trộm cắp tiền.

Ngày 22/3/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V ra Quyết định trưng cầu giám định Viện Pháp y Quân đội xác định ADN trong mẫu máu thu giữ khi khám nghiệm hiện trường.

Tại Bản kết luận giám định số 02.22/PY-XNSH ngày 28/3/2022 của Viện Pháp y Quân đội kết luận: “Dấu vết màu nâu đỏ thấm trên tăm bông thu tại sườn xe ô tô và dấu vết trên mảng kính ô tô vỡ gửi giám định có sinh phẩm của người, có ADN nhiễm sắc thể thường trùng khớp với nhau. ADN và kiểm gen được lưu tại Khoa Xét nghiệm Sinh học, Viện Pháp y Quân đội, ký hiệu GDD02.22_1, GDD02.22_2”.

Ngày 18/4/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an huyện V yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V định giá, xác định giá trị kính chắn gió trước xe ô tô Suzuki XL7, biển số 98A-354.74.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 31 ngày 19/4/2022 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện V kết luận: 01 kính chắn gió trước xe ô tô nhãn hiệu Suzuki XL7, biển số 98A-354.74 trị giá 5.600.000 đồng.

Ngày 16/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V thu giữ mẫu tóc của Ngô Văn H để trưng cầu Viện pháp y Quân đội giám định mẫu ADN của Ngô Văn H so với mẫu ADN thu giữ trong quá trình khám nghiệm.

Tại Bản kết luận giám định ADN số GDD11.22/PY-XNSH ngày 22/8/2022 của Viện Pháp y Quân đội kết luận: ADN nhiễm sắc thể thường từ mẫu tóc của Ngô Văn H trùng khớp với AND nhiễm sắc thể thường đã phân tích từ dấu vết màu nâu đỏ thấm trên tăm bông thu tại sườn xe ô tô (ký hiệu GDD02.22-1) và dấu vết trên mảnh kính ô tô vỡ gửi giám định (ký hiệu GDD02.22-1).

Ngày 30/8/2022, Cơ quan điều tra trích xuất hình ảnh camera ghi lại nội dung sự việc đối tượng đập kính xe ô tô trộm cắp tiền trong xe ô tô của anh T vào ngày 19/3/2022 cho H nhận dạng qua bản ảnh. Kết quả, Ngô Văn H xác định người trong bản ảnh thực hiện hành vi đập vỡ kính xe ô tô, trộm cắp số tiền 1.500.000 đồng nêu trên là H.

Cáo trạng số 200/CT- VKS ngày 13 tháng 10 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện V truy tố bị cáo Ngô Văn H về tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản ” theo điểm g Khoản 2 Điều 178 của Bộ luật Hình sự và tội “ Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên,

Kết thúc thẩm vấn, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, giữ quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên quan điểm truy tố, sau khi đánh giá chứng cứ, đề nghị:

Áp dụng điểm g Khoản 2 Điều 178, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Ngô Văn H từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Ngô Văn H từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự buộc bị cáo Ngô Văn H chấp hành hình phạt chung của 02 tội là từ 33 tháng tù đến 42 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016 Quốc Hội khóa 14 ngày 30/12/2017 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V , Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa. Sự vắng mặt của những người này không trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hanh xét xử.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các kết luận giám định và kết quả trích xuất hình ảnh camera, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm và các chứng cứ khác, có đủ cơ sở kết luận:

Ngô Văn H, sinh năm 1995 là người có tiền án về tội “Cướp tài sản”, “Trộm cắp tài sản” với tình tiết tăng nặng là tái phạm chưa được xóa án tích. Khoảng 02 giờ 45 phút ngày 19/3/2022, tại đoạn đường giao thông ở khu vực trước cửa nhà anh Thân Văn T, sinh năm 1991, ở thôn Ph, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang, Ngô Văn H có hành vi dùng 01 vam phá khóa bằng kim loại, hình chữ “T” đập vỡ cửa kính chắn gió phía trước xe ô tô nhãn hiệu Xuzuki-XL7 biển kiểm soát 98A-354.74 gây thiệt hại cho tài sản trị giá 5.600.000 đồng rồi lợi dụng ban đêm mọi người ngủ không có người trông coi, H lén lút lấysố tiền 1.500.000 đồng của anh Thân Văn T để trên mặt táp lô của ô tô.

Hành vi của bị cáo Ngô Văn H có đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý làm hư hỏng tài sản và Trộm cắp tài sản. Chính vì vậy Cáo trạng số 200/CT- VKS ngày 13 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V truy tố bị cáo Ngô Văn H về các tội “Cố ý làm hư hỏng tải sản” theo điểm g khoản 2 Điều 178 và và “ Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đủ khả năng nhận thức điều khiển được hành vi. Bị cáo có hành vi trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của anh Thân Văn T được pháp luật bảo vệ một cách trái pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo gây tâm lý lo lắng, hoang mang trong nhân dân trong việc bảo quản tài sản gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn khu công nghiệp. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đối với hành vi trộm cắp tài sản bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn, áp dụng các điểm s Khoản 1 Điều 51, riêng hành vi trộm cắp tài sản áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi cân nhắc hình phạt.

[ 5] Về tình tiết tăng nặng: Tình tiết tái phạm nguy hiểm của bị cáo đã áp dụng là tình tiết định khung hình phạt và tình tiết định tội, do đó Hội đồng xét xử không áp dụng là tình tiết tăng nặng

Khi cân nhắc hình phạt Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, phạm nhiều tội, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38 của Bộ luật Hình sự buộc bị cáo cách ly khỏi xã hội một thời gian mới giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Đối với chị Phạm Thị H là người cho Ngô Văn H ở phòng trọ của mình, nhưng không biết việc H thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và huỷ hoại tài sản nên chị Hiền không vi phạm pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Thân Văn T là bị hại không yêu cầu bị cáo bổi thường thiệt hại, số tiền bị cáo trộm cắp của anh T, nay anh T không yêu cầu bị cáo bồi thường, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng: 01 vam phá khóa làm bằng kim loại, hình chữ “T” H sử dụng để đập vỡ kính xe ô tô để trộm cắp tài sản, sau khi thực hiện hành vi phạm tội H vứt đi, hiện bị cáo không nhớ vị trí vứt và số tiền trộm cắp có được đã chi tiêu cá nhân hết nên Cơ quan điều tra không thu giữ được, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1. Về áp dụng điều luật:

Căn cứ điểm g Khoản 2 Điều 178, điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với tội Cố ý làm hưng hỏng tài sản.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s, điểm h Khoản 1, Điều 51, Điều 38

của Bộ luật Hình sự đối với tội trộm cắp tài sản.

Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ điểm a Khoản 2 Điều 136, các Điều 292, 293, 331; 332, 333; 336, 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

2. Về mức hình phạt:

Xử phạt bị cáo Ngô Văn H 02 ( hai) năm 06 ( sáu) tháng tù về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản; 06 ( sáu) tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho 02 tội là 03 ( ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế theo quy định tại điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XƢ SƠ THẨM -TAND tỉnh Bắc Giang;

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA -VKSND tỉnh Bắc Giang; -Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang; -VKSND huyện V; -CCTHA huyện V; -Công an huyện V; -UBND xã D; -Bị cáo, người tham gia tố tụng khác; -Lưu HS- VP.

Bùi Thị Hƣơng TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BẮC GIANG

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Việt Yên, ngày 22 tháng 11 năm 2022

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi………. giờ …….. phút ngày 22 tháng 11 năm 2022

Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Vân

Nguyễn Tiến Ngọc

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 201/2022/TLST- HS ngày 14 tháng 10 năm 2022, đối với:

Bị cáo Ngô Văn Hùng, sinh năm 1995, tại Thôn Cầu Ván, xã Dương Đức, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và “ Trộm cắp tài sản”

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƢ SAU:

1. Vụ án không thuộc trường hợp phải tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

2. Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Việt Yên và Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên thu thập đều đúng trình tự thủ tục quy định.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

3. Về tội danh:

Đủ căn cứ kết tội bị cáo Ngô Văn Hùng phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và “ Trộm cắp tài sản” Kết quả biểu quyết: 3/3

4. Về điều luật áp dụng

Căn cứ điểm g Khoản 2 Điều 178 điểm s Khoản 1, Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với tội Cố ý làm hưng hỏng tài sản.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s, điểm h Khoản 1, Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với tội trộm cắp tài sản.

Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ điểm a Khoản 2 Điều 136, các Điều 292, 293, 331; 332, 333; 336, 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự

Kết quả biểu quyết: 3/3.

5. Về mức hình phạt:

Xử phạt: Bị cáo Ngô Văn Hùng 02 ( hai) năm 06 ( sáu) tháng tù về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản; 06 ( sáu) tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho 02 tội là 03 ( ba) năm thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Kết quả biểu quyết: 3/3

6. Các vấn đề khác:

6.1.Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6.2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế theo quy định tại điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Kết quả biểu quyết: 3/3

Nghị án kết thúc vào hồi....... giờ ....... phút ngày 22 tháng 10 năm 2022

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử

cùng nghe và ký tên./

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Bùi Thị Hƣơng Nguyễn Tiến Ngọc- Nguyễn Ngọc Vân TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BẮC GIANG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Số: /2021/HSST-QĐ

Việt Yên, ngày 27 tháng 4 năm 2022 QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG.

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Ngọc

Bà Nguyễn Thị Lại

Căn cứ vào các điều 109, 113, 119, và 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Căn cứ vào biên bản nghị án ngày 27 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng xét xử sơ thẩm;

Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tạm giam bị cáo: Lê Văn Hảo ( tức Lê Văn Dân), sinh năm 1990;

Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn Nguyễn, xã Trung Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do;

Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt: 02 ( hai) năm tù về tội trộm cắp tài sản.

Theo điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Thời hạn tạm giam là: 45 ngày kể từ ngày tuyên án ( tức 27/4/2022)

2. Trại tạm giam thuộc Công an tỉnh Bắc Giang có trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Cỡ chữ