- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Duy Tân - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 204/2022/HS-PT Ngày: 01-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Vũ.
Các Thẩm phán:
1. Bà Phạm Thị Thùy Trang;
2. Ông Hà Chí Quốc
- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Thúy Vân, Thư ký Tòa án Nh dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 194/2022/TLPT-HS ngày 25 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Duy T (Tý Hon); do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số: 94/2022/HS-ST ngày 14 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện GD, tỉnh Tây Ninh.
Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Duy T (Tý Hon), sinh ngày 06-7-2003, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký HKTT: Ô5/196B, khu phố TB A, thị trấn GD, huyện GD, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn D, sinh năm 1983 và bà Nguyễn Thị KO, sinh năm 1986; vợ, con chưa có; tiền án: Tại Bản án số 145, ngày 28-11-2019 của Tòa án nhân dân huyện GD, xử phạt bị cáo 02 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm về tội “Cố ý gây thương tích”, theo điểm a khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự; tiền sự: Không có; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23-4-2022 đến nay; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Duy T: Ông Đặng Tấn L - Luật sư của Văn phòng Luật sư Đặng L, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Tây Ninh; có mặt.
Bị hại: Anh Đặng Bá T1, sinh năm 1993; cư trú tại: Ấp TV 2, xã TP, H2ện GD, tỉnh Tây Ninh; Tòa án không triệu tập.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1970; cư trú tại: Khu phố RS, thị trấn GD, H2ện GD, tỉnh Tây Ninh;
- Ông Phạm Văn M, sinh năm 1975; cư trú tại: Ô2/230 khu phố TB C, thị trấn GD, H2ện GD, tỉnh Tây Ninh;
- Ông Nguyễn Văn M2, sinh năm 1953; cư trú tại: Ô3/154 khu phố TB C, thị trấn GD, H2ện GD, tỉnh Tây Ninh;
- Bà Nguyễn Thị KO, sinh năm 1986; cư trú tại: Ô5/196B khu phố TB A, thị trấn GD, H2ện GD, tỉnh Tây Ninh;
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Th, sinh năm 1976; cư trú tại: Ô5/169A khu phố TB A, thị trấn GD, H2ện GD, tỉnh Tây Ninh.
Tòa án không triệu tập.
Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo Phạm HT(T Le), Huỳnh Nguyễn Hoàng Th, Dư Đạt M2, Nguyễn Hoàng Nh không có kháng cáo, kháng nghị; Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sau khi cùng nhau uống bia, khoảng 01 giờ 30 phút ngày 23-4-2022, Phạm Hồng T5, Huỳnh Nguyễn Hoàng Th, Nguyễn Duy T, Dư Đạt M2 và Nguyễn Hoàng Nh về ngang quán Út C thuộc khu phố Thanh Hà, thị trấn GD, thì gặp anh Đặng Bá T1 đang đẩy xe nhìn HT nên giữa HT và anh T1 cãi nhau. HT dùng nón bảo hiểm ném trúng mặt của anh T1, rồi kêu cả nhóm xông vào đánh anh T1 thì được mọi người can ngăn. Sau đó, HT điều khiển xe mô tô biển số 70C1-124.73 chở M2 và Nh, T điều khiển xe mô tô biển số 70F1-709.90 chở Thiện cùng đến nhà của HT thuộc ấp PH A, xã PTh, H2ện GD, để lấy 02 cây phảng, rồi quay lại quán Út C tìm anh T1 để chém nhưng không gặp. Cả nhóm đi đến nhà của anh T1 thuộc khu phố TB A, thị trấn GD, thì thấy đóng cửa nên đi về, trên đường về thấy anh T1 đang điều khiển xe chạy ngược chiều, nên cả nhóm quay lại đuổi theo.
Khi đến gần nhà của anh T1, HT giật cây phảng trên tay M2 đang cầm. Lúc này, M2 và Nh xông vào đánh anh T1 bằng tay, rồi M2 ôm vật anh T1 ngã trên đường bê tông. Nh dùng chân đá liên tục vào vai, cổ và mặt của anh T1. HT cầm cây phảng chém trúng đứt rời bàn chân trái của anh T1. Sau đó, cả nhóm bỏ đi và ném 02 cây phảng ven đường. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, T, Nh và M2 đến Công an đầu thú.
Trước đó, khoảng 20 giờ ngày 03-3-2022, Nguyễn Thành T2 và Nguyễn Văn V1 bị nhóm của Nguyễn M Luân đánh gây thương tích tại nhà của Huỳnh Văn C1, thuộc ấp CX, xã TP, H2ện GD. Khoảng 08 giờ ngày 04-3-2022, Nguyễn Văn V1 gọi điện thoại kêu Phạm HT rủ thêm người để đi đánh L1 thì HT đồng ý. Khoảng 10 giờ cùng ngày, HT đang uống cà phê cùng với Huỳnh Nguyễn Hoàng Th, Nguyễn Thành H2, Dương Thành Tuấn, Cao Nguyên V1, Cao Văn T4 và Nguyễn Quốc Th2 thì T2 gọi điện thoại cho Hồng T5, HT mở loa lớn cho cả nhóm cùng nghe về việc T2 kêu đi đánh Luân để trả thù. Sau khi nghe điện thoại, HT rủ H2, Tuấn, Nguyên V1, Th2 và Văn T4 cùng đi đánh Luân thì tất cả đồng ý. Lúc này, Văn V1 gọi điện thoại cho HTkêu cả nhóm đến nhà của Văn V1, rồi cùng với Văn V1 đến nhà của Văn T4 thuộc khu phố TB A, thị trấn GD, để lấy hung khí gồm 04 cây rựa và 01 cây dao tự chế. Sau đó, H2 điều khiển xe mô tô chở Thiện cầm cây rựa; HT điều khiển xe mô tô chở Nguyên V1 và Th2 đều cầm cây rựa, Văn T4điều khiển xe mô tô chở Tuấn cầm cây rựa và Văn V1 cầm cây dao tự chế đến nhà của C1 tìm Luân nhưng không gặp, tại đây cả nhóm bị Công an xã TP đi tuần tra phát hiện nên bỏ chạy, riêng Văn T4và Văn V1 bị bắt giữ.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 140 ngày 06-6-2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Tây Ninh kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Đặng Bá T1 do thương tích gây nên 45%, thương tích phù hợp do vật sắc gây ra.
Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: 01 đôi dép xốp kích thước 26 cm x 10 cm; 01 đôi dép xốp kích thước 27cm x 11 cm màu xám có hoa văn màu xanh đỏ, loại quai kẹp; 01 đôi dép màu đen trắng loại quai ngang; 01 nón vải màu đen.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình của các bị cáo Phạm Hồng T5, Huỳnh Nguyễn Hoàng Th, Nguyễn Duy T, Dư Đạt M2 và Nguyễn Hoàng Nh đã bồi thường thiệt hại cho anh T1 số tiền 95.000.000 đồng, anh T1 làm đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Đối với Cao Nguyên V1, Dương Thành Tuấn, Cao Văn Tiến, Nguyễn Quốc Th2 và Nguyễn Thành H2 có hành vi chuẩn bị 04 cây rựa và 01 cây dao tự chế là hung khí nguy hiểm để tìm chém Nguyễn M Luân, nhưng chưa chém được, Cơ quan Cảnh sát điều tra xử lý trong vụ án khác.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 94/2022/HSST ngày 14-9-2022 của Tòa án nhân dân huyện GD, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 5 Điều 65; Điều 56, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T (Tý Hon) 06 (sáu) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Buộc bị cáo Nguyễn Duy T (Tý Hon) phải chấp hành hình phạt 02 năm tù của Bản án số 145 ngày 28-11-2019 của Tòa án nhân dân huyện GD, tỉnh Tây Ninh. Tổng hợp hình phạt chung bị cáo Nguyễn Duy T (Tý Hon) phải chấp hành là 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 23-4-2022.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh, mức hình phạt đối với các bị cáo khác, biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 16-9-2022, bị cáo Nguyễn Duy T làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Duy T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, xin giảm nhẹ hình phạt.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm về vụ án:
Về tố tụng: Các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm, phúc thẩm thực hiện đúng với trình tự tố tụng theo quy định của pháp luật và hợp pháp.
Về nội dung: Bản án hình sự sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T 06 tù về tội “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ gì mới cho yêu cầu của mình; đối với các hóa đơn khám chữa bệnh do bà Nguyễn Thị KO mẹ bị cáo giao nộp, không phải chứng cứ để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên không có cơ sở chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 355, 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T; giữ nguyên bản án hình sư sơ thẩm.
Luật sư bào chữa cho bị cáo tranh luận: Việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là đúng quy định, nhưng xét thấy bị cáo là lao động chính gia đình; mẹ bị cáo bị bệnh; có hai người em bị kH2ết tật; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo là người giúp sức, không trực tiếp gây thương tích cho bị hại. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo
Bị cáo thống nhất phát biểu tranh luận của Luật sư, không bổ sung ý kiến.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm về lo cho gia đình và làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Duy T khai trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án tại cấp sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm. Do đó, hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm là hợp pháp, đúng pháp luật.
Bị cáo kháng cáo trong thời hạn quy định tại Điều 331, 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm, lời khai của bị cáo Nguyễn Duy T phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở xác định: Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 23-4-2022, Phạm Hồng T5, Huỳnh Nguyễn Hoàng Th, Nguyễn Duy T, Dư Đạt M2 và Nguyễn Hoàng Nh sau khi uống bia trên đường về qua ngang quán Út Cường thuộc khu phố Thanh Hà, thị trấn GD, thì gặp anh Đặng Bá T1 đang đẩy xe và giữa Tiến, anh T1 cãi nhau, nên cả nhóm xông vào đánh anh T1 nhưng được mọi người can ngăn. Sau đó, cả nhóm lên xe chở nhau đến nhà Tiến thuộc ấp PH A, xã PTh, H2ện GD, lấy 02 cây phảng, rồi quay lại quán Út Cường tìm anh T1 nhưng không gặp, nên tiếp tục tìm đến nhà anh T1 thuộc khu phố TB A, thị trấn GD, tại đây khi phát hiện anh T1 đang điều khiển xe, nên cả nhóm xông vào đánh anh T1 bằng tay, vật anh T1 ngã trên đường bê tông, Tiến cầm cây phảng chém trúng đứt rời bàn chân trái của anh T1. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Duy T cùng các bị cáo khác về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Duy T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự xã hội tại địa phương, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng Nh dân. Tính chất vụ án rất nghiêm trọng, bị cáo nhận thức rõ việc làm của mình cùng các bị cáo khác là sai trái, vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì một mâu thuẫn nhỏ, các bị cáo cùng nhau tìm bị hại để gây án. Bản thân bị cáo đang phải chấp hành hình phạt tù cho hưởng án treo, nhưng không biết rèn luyện, sửa chữa bản thân trong thời gian thử thách mà lại cố ý tiếp tục phạm tội mới nên C1 có mức án tương xứng trong vụ án này và phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo để răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.
Xét kháng cáo của bị cáo thấy rằng: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và cùng với các bị cáo trong vụ án đã bồi thường thiệt hại xong cho bị hại và được bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Khi xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét và áp dụng đầy đủ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo mức án 06 năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả do bị cáo gây ra. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng M cho yêu cầu của mình, do đó tại phiên tòa phúc thẩm Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là không có cơ sơ chấp nhận.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp, nên được chấp nhận; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Duy T (Tý Hon).
Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 94/2022/HSST ngày 14-9-2022 của Tòa án nhân dân huyện GD, tỉnh Tây Ninh.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy T (Tý Hon) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 5 Điều 65; Điều 56, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T (Tý Hon) 06 (sáu) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Buộc bị cáo Nguyễn Duy T (Tý Hon) phải chấp hành hình phạt 02 năm tù của Bản án số 145 ngày 28-11-2019 của Tòa án nhân dân huyện GD, tỉnh Tây Ninh. Tổng hợp hình phạt chung bị cáo Nguyễn Duy T (Tý Hon) phải chấp hành 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 23-4-2022.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Duy T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Tây Ninh; - Phòng KTNV- TAND tỉnh; - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh; - TAND huyện GD; - VKSND huyện GD; - CCTHADS huyện GD; - Công an huyện GD; - Công an xã nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo; - Lưu: hồ sơ, tập án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Trần Quốc Vũ |