- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đỗ Thị Đ ly hôn P"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 204/2022/HNGĐ-ST Ngày : 14 - 12 - 2022 V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Thành Thật
2. Bà Phan Hoàng Mai
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Long Xuyên tham gia phiên toà: Ông Võ Phan Hưng, Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 469/2022/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 466/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 439/2022/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị D, sinh năm: 1984; Địa chỉ: ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Trương Minh P, sinh năm: 1982; Địa chỉ: 1395A/70 khóm B, phường B, thành phố L, An Giang (vắng mặt lần 2 không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa nguyên đơn bà Đỗ Thị D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị D và ông Trương Minh P tự nguyện quen biết tìm hiểu, tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Bình Đức, thành phố Long Xuyên và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 03/11/2003. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hoà hợp, ông P không chăm lo cho gia đình, thường xuyên ăn nhậu. Hiện tình cảm vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà D yêu cầu ly hôn với ông P.
Về con chung: có 01 con chung tên Trương Minh H, sinh ngày 12/01/2005, hiện đang sống với bà D. Sau khi ly hôn bà D yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H và không yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Trương Minh P không có văn bản trình bày ý kiến, không tham dự các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai, chứng cứ và hòa giải; cũng như không tham dự phiên tòa do Tòa án triệu tập.
Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Đỗ Thị D có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Trương Minh P được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai, không có lý do.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án;
- Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự và còn phải chịu hậu quả pháp lý theo quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án: Nguyên đơn, bị đơn tự nguyện tiến đến hôn nhân và đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn là có cơ sở theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận; Về con chung: có 01 con chung tên Trương Minh H, sinh ngày 12/01/2005, hiện đang sống với bà D. Sau khi ly hôn bà D yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H và không yêu cầu cấp dưỡng. Để đảm bảo ổn định về tinh thần cũng như quyền lợi về mọi mặt cho con chung nên đề nghị chấp nhận giao con chung tên H cho bà D tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Đối với cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung: không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Đỗ Thị D khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Trương Minh P. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý là đúng thẩm quyền.
Tại biên bản xác minh tình trạng cư trú ngày 26/10/2022, Công an phường Bình Đức, thành phố Long Xuyên xác nhận: Đương sự Trương Minh P, sinh năm 1982, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại số 1395A/70, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang. Tòa án đã tiến hành tống đạt trực tiếp, niêm yết các văn bản tố tụng cho bị đơn hợp lệ nhưng bị đơn đã từ chối các quyền, cũng như không thực hiện nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Nguyên đơn bà Đỗ Thị D có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Trương Minh P mặc dù được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật nhưng ông P vẫn không tham dự phiên tòa. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; điểm a, b khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
- Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị D và ông Trương Minh P xác lập quan hệ vợ chồng và chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của ông, bà được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Khi vợ chồng chung sống thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, bất đồng về quan điểm sống. Ngoài ra, theo bà D trình bày thì ông P không chăm lo cho gia đình, thường xuyên ăn nhậu, do đó tình cảm vợ chồng không còn hàn gắn được nên bà D cương quyết yêu cầu ly hôn, ông P không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà D.
Hội đồng xét xử nhận thấy, hôn nhân phải trên cơ sở tự nguyện, bà D xác định không thể tiếp tục chung sống cùng với ông P, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, giữa vợ chồng không còn thực hiện các quyền và nghĩa vụ cũng như không cố gắng hàn gắn, duy trì cuộc sống hôn nhân. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà D là phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: có 01 con chung tên Trương Minh H, sinh ngày 12/01/2005, hiện đang sống với bà D. Sau khi ly hôn bà D yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H.
Hội đồng xét xử nhận thấy cháu H chưa thành niên, đang được bà D chăm sóc, nuôi dưỡng trực tiếp, hiện cuộc sống của cháu đã ổn định. Vì vậy, nhằm đảm bảo cuộc sống của cháu H không bị ảnh hưởng về tâm sinh lý khi cha, mẹ ly hôn và quyền lợi mọi mặt cho con chung. Mặt khác, tại biên bản ghi ý kiến cháu H vào ngày 10/11/2022 thì cháu cũng có nguyện vọng mong muốn tiếp tục được sống chung với bà D. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu H cho bà D tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là chính đáng và có cơ sở theo quy định tại Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Ông P không trực tiếp nuôi con chung nhưng có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản ông P thực hiện quyền này.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
Đối với việc cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, ông P không trực tiếp nuôi con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định, tuy nhiên bà D không yêu cầu ông P cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Bà D trình bày không có, không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án giải quyết nhưng ông P vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Ông P không có văn bản trình bày ý kiến về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử chưa giải quyết. Đương sự có tranh chấp, khởi kiện bằng vụ kiện khác theo quy định.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà D phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ông P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 186; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị D.
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đỗ Thị D với ông Trương Minh P.
Giấy chứng nhận kết hôn số 178 do Ủy ban nhân dân phường Bình Đức, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang cấp cho bà Đỗ Thị D với ông Trương Minh P ngày 03/11/2003 hết hiệu lực kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
[2] Về con chung: Giao 01 (một) con chung tên Trương Minh H, sinh ngày 12/01/2005 cho bà Đỗ Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng,
Ông Trương Minh P không trực tiếp nuôi con chung nhưng ông có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản ông P thực hiện quyền này.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định. Việc nuôi con không cố định.
[3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: không xem xét, giải quyết.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí sơ thẩm:
Bà Đỗ Thị D phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000928 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên ngày 20/10/2022. Bà D đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Trương Minh P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[6] Về quyền kháng cáo:
Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND TP Long Xuyên; - TAND tỉnh An Giang; - Chi cục THADS TP.Long Xuyên; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - VP (5)./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Dung |