vanban.org

Bản án 204/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 01/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Hải Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phan Hải Đ 05 (năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/6/2019. 01 (một) phong bì hoàn mẫu vật của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau, niêm phong vụ số 54-GĐH/PC09, ngày 29/3/2019, tên mẫu M.36/2019 tên đối tượng Phan Hải Đ (Có đóng dấu giáp lai của Phòng k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Hải Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 204/2019/HSST
Ngày 01 - 11 – 2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Bà Lê Thị Thu.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Kim Nguyện;

Ông Nguyễn Hoàng Kha.

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thúy Dung – Thư ký Tòa án.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân Thành phố Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Hồ Thanh Sang - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 208/2019/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 819/2019/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phan Hải Đ, sinh ngày 08/01/2001, nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Khóm H, phường N, thành phố C, tỉnh Cà Mau; chỗ ở: Không nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phan Trọng N và bà Nghê Tuyết M (cả 2 còn sống); vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại quyết định số 125 ngày 04/5/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 13 tháng. Vào ngày 14/6/2019 có quyết định số 195 về việc tạm đình chỉ quyết định xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/6/2019 cho đến nay (Bị cáo có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ ngày 06/3/2018, Đ đang ở tiệm game (không rõ tên) trên đường Nguyễn Trãi, phường 9, thành phố Cà Mau thì muốn sử dụng ma túy nên Đ gọi điện thoại cho 01 người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ, số điện thoại) hỏi mua 500.000đ ma túy đá, người thanh niên trên đồng ý bán và hẹn giao ma túy tại vòng xoay khu dân cư Minh Thắng thuộc khóm 3, phường 9, thành phố Cà Mau. Sau đó, Đ gặp người bạn tên L (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) chạy xe đến tiệm game, Đ nhờ L chở xuống khu dân cư Minh Thắng thì L đồng ý. Khi đến nơi, Đ kêu L dừng xe lại, Đ xuống xe và đi đến vòng xoay đặt 500.000đ lên thềm vòng xoay và lấy cục đá dằn lên, rồi kêu L tiếp tục chở Đ quanh phố đi bộ. Khoảng 15 phút sau Đ kêu L chở Đ quay lại vòng xoay và đi đến vị trí để tiền lúc đầu lấy 01 bịch nilon có chứa ma túy đá, rồi cất giấu vào trong bóp để trong túi quần Jean, phía sau, bên phải Đ đang mặc trên người rồi kêu L chở về tiệm game trên đường Nguyễn Trãi. Sau đó, L điều khiển xe chạy đi. Lúc này, tiệm game không nhận khách, Đ thấy người bạn tên Bùi Văn T, sinh năm 2001, ngụ khóm B, phường M, thành phố C chạy xe ngang nên Đ kêu T chở đến nhà trọ Lê A thuộc khóm S, phường M, thành phố C, thì T đồng ý. Khi đến nơi, T đậu xe bên ngoài, Đ xuống xe đến phòng số 5 thì bạn Đ nhờ Đ mua dùm chai gas và cây kéo. Sau đó, Đ kêu T chở đi mua, khi quay về đến cửa nhà trọ thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện Đ đang tàng trữ ma túy trong người. Tang vật được niêm phong trong phong bì hình chữ nhật, có chữ ký, ghi họ tên Phan Hải Đ, ký hiệu M.09/2018. Ngoài ra, còn thu giữ của Đ 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu xám trắng (đã qua sử dụng); Thu giữ của T (là người chở Đ đến nhà trọ Lê Anh) 01 xe môtô 69AA-029.99.

Tại kết luận giám định số 121-KLGĐ-PC54, ngày 14/3/2018, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long, kết luận: Mẫu tinh thể rắn trong suốt bên trong 01 (một) bịch nilon trong phong bì được niêm phong (ký hiệu M.09/2018), gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,6070 gam, loại Methamphetamine. Hoàn lại: Mẫu tinh thể có khối lượng: 0,5215 gam; vỏ bao gói.

Đến khoảng 03 giờ 00 phút ngày 19/3/2019, Đ và người bạn tên T' (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể, chỉ biết ở Bạc Liêu) đang ở công viên Hồng Bàng thì T' rủ Đ đi mua ma túy về sử dụng. Đ đồng ý và nói không có tiền, T' nói có 200.000đ. Sau đó, Đ và T' mỗi người thuê 01 xe Honda khách đi đến 01 con hẻm nhỏ gần ngã tư Siêu thị Nguyễn Kim thuộc khóm B, phường T, thành phố C. Lúc này, xe Honda khách của T' chạy vào trong hẻm mua ma túy, còn xe Honda khách của Đ đứng đợi. Khoảng 20 phút sau thì T' và người chạy xe Honda khách chạy ra, thì Đ hỏi T' “xong chưa”, T' trả lời “xong rồi” và T' đưa 01 gói thuốc lá (không nhớ nhãn hiệu) bên trong có chứa 01 ống hút nhựa có chứa chất ma túy đá cho Đ cất giữ, Đ lấy gói thuốc cất giấu vào trong túi quần Jean bên trái, phía trước đang mặc trên người. Sau đó, xe Honda khách chở T' và xe Honda khách chở Đ cùng chạy về hướng phường T, thành phố C. Khi chạy đến khu vực thuộc khóm M, phường T, thành phố C thì bị lực lượng Cảnh sát 113 yêu cầu dừng xe kiểm tra. Lực lượng kiểm tra T' cùng người chạy xe Honda khách không phát hiện gì nên cho đi. Lực lượng tiếp tục kiểm tra Đ và người chạy xe Honda khách, phát hiện Đ đang cất giấu ma túy trong người nên lực lượng Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Tang vật được niêm phong trong phong bì hình chữ nhật, có chữ ký, ghi họ tên Phan Hải Đ và những người chứng kiến. Ký hiệu M.36/2019.

Tại kết luận giám định số 54-GĐH/PC09, ngày 29/3/2019, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau, kết luận:

Mẫu tinh thể màu trắng bên trong ống nilon được hàn kín hai đầu, niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật của Công an thành phố Cà Mau, ký hiệu M.36/2019, thu giữ vào ngày 19/3/2019 gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,1361 gam, loại Methamphetamine.

Hoàn lại: 0,0842 gam mẫu ký hiệu M.36/2019 gửi đến giám định có niêm phong sau khi trích giám định, không lưu. Tại biên bản thử nước tiểu phát hiện nhanh chất ma túy, xác định Đ có sử dụng ma túy.

Quá trình điều tra bị can Phan Hải Đ thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại cáo trạng số: 205/CT-VKS ngày 08/10/2019 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố bị cáo Phan Hải Đ về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm b khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với Phan Hải Đ theo cáo trạng số: 205/CT-VKS ngày 08/10/2019 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và căn cứ điểm b khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 05 năm đến 06 năm tù. Về vật chứng, căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì hoàn mẫu vật của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau, niêm phong vụ số 54-GĐH/PC09, ngày 29/3/2019, tên mẫu M.36/2019 tên đối tượng Phan Hải Đ (Có đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau); 01 (một) phong bì hoàn mẫu vật của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long, niêm phong mẫu vật hoàn trả số 121/KLGĐ-PC54, ngày 14/3/2018, tên mẫu M.09/2018; tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng xám (cũ, đã qua sử dụng).

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo không khiếu nại gì về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp, được thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự quy định.

Bị cáo là người nghiện ma túy nên vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 06/3/2018, tại nhà trọ Lê A thuộc khóm S, phường M, thành phố C, Phan Hải Đ có hành vi tàng trữ 0,6070 gam ma túy, loại Methamphetamine. Trong thời gian điều tra làm rõ độ tuổi và chổ ở của Đ, thì đến khoảng 03 giờ 45 phút ngày 19/3/2019, Đ tiếp tục có hành vi tàng trữ trái phép 0,1361 gam ma túy loại Methamphetamine. Tổng khối lượng chất ma túy Phan Hải Đ tàng trữ là 0,7431 gam nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang cùng tang vật. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và các chứng cứ khác đã thu thập được trong quá trình điều tra, phù hợp với kết luận giám định.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức và biết được tác hại của ma tuý nhưng vẫn thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo thực hiện việc tàng trữ 02 lần. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố bị cáo tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội thấy rằng, hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội bởi chính tác hại của ma tuý sẽ gây ức chế về thần kinh, tạo ảo giác mạnh cho người sử dụng, làm ảnh hưởng đến sức khỏe, gián tiếp gây ra các tệ nạn xã hội khác. Do đó, cần xử lý nghiêm hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho bị cáo là phù hợp.

Về vật chứng của vụ án: 01 (một) phong bì hoàn mẫu vật của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau, niêm phong vụ số 54-GĐH/PC09, ngày 29/3/2019, tên mẫu M.36/2019 tên đối tượng Phan Hải Đ (Có đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau); 01 (một) phong bì hoàn mẫu vật của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long, niêm phong mẫu vật hoàn trả số 121/KLGĐ-PC54, ngày 14/3/2018, tên mẫu M.09/2018 tên giám định viên Nguyễn Hữu Dự (Có đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long) xét thấy đây là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng xám (cũ, đã qua sử dụng) là tài sản của bị cáo dùng để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

Đối với xe môtô biển số 69AA-029.99 là của Bùi Văn T, quá trình điều tra chứng minh được xe này là tài sản riêng của T, không liên quan đến việc phạm tội của Phan Hải Đ. Ngày 13/3/2018, Cơ quan điều tra đã trả lại xe trên cho T và T không yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét. Việc Bùi Văn T điều khiển xe chở Đ đến nhà trọ Lê A, T không biết việc Đ cất giấu ma túy trong người, đến khi Đ bị bắt quả tang thì T mới biết Đ tàng trữ trái phép chất ma túy nên không xử lý T đồng phạm với Đ về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của T pháp luật không quy định là tội phạm, hiện tại T đã bỏ đi khỏi địa phương nên giao cho Cơ quan điều tra xác minh xử lý hành chính theo quy định pháp luật.

Đối với đối tượng tên T', Đ khai T' là người mua ma túy đưa cho Đ cất giữ nhưng chưa xác định được lai lịch của T' và lượng ma túy bị bắt quả tang vào ngày 06/3/2018 Đ khai mua ma túy của 01 thanh niên (không rõ họ và địa chỉ) nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được. Vì vậy giao Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh có căn cứ xử lý sau.

Đối với người thanh niên tên L, Đ khai L chở Đ đến vòng xoay khu dân cư Minh Thắng để Đ mua ma túy sử dụng thì Đ không nói cho L biết nên L hoàn toàn không biết việc Đ mua ma túy sử dụng nên không có căn cứ xử lý L về hành vi này là phù hợp.

Về án phí, bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Phan Hải Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phan Hải Đ 05 (năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/6/2019.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) phong bì hoàn mẫu vật của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau, niêm phong vụ số 54-GĐH/PC09, ngày 29/3/2019, tên mẫu M.36/2019 tên đối tượng Phan Hải Đ (Có đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau);

- 01 (một) phong bì hoàn mẫu vật của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long, niêm phong mẫu vật hoàn trả số 121/KLGĐ-PC54, ngày 14/3/2018, tên mẫu M.09/2018 tên giám định viên Nguyễn Hữu Dự (Có đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long).

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng xám (cũ, đã qua sử dụng).

Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo Phan Hải Đ phải nộp số tiền là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng – chưa nộp).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ