- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bạch Hưng L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: bị cáo Bạch H L 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 15/02/2018.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 204/2018/HS-ST Ngày 13 tháng 6 năm 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Phạm Thị Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. ông Dương Ngọc Linh
2. ông Trần Quốc Đấu
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Quang Bình – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: bà Tăng Thị Mỵ Nương – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 150/2018/TLST-HS ngày 24/4/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 272/2018/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bạch H L , sinh năm 1993 tại xã H , huyện H Ng , tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm , xã H , huyện H , tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông: Bạch H L và bà Mạnh Thị Th ; vợ: Lê Thị H ; con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Năm 2012, Tòa án nhân dân thành phố Vinh xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/02/2018 đến nay (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20h00’ ngày 14/02/2018, Bạch H L đến uống rượu tại quán lẩu nướng thuộc xóm 4, xã H , huyện H , tỉnh Nghệ An thì gặp một người bạn (không biết lai lịch, địa chỉ) cho L 01 gói ma túy đá, L cất trong túi quần mục đích để sử dụng. Khoảng 21h00’ cùng ngày L rủ Bạch H (người cùng xóm đi uống rượu cùng L ) ra thành phố Vinh chơi. H điều khiển xe mô tô BKS 37N1-57476 chở L ra thành phố Vinh. Đến khoảng 22h00’ cùng ngày, khi cả hai đến đoạn đường D Q, thuộc phường Tr Đ, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An thì bị Đội tuần tra phòng cảnh sát cơ động Công an tỉnh Nghệ An kiểm tra phát hiện và thu giữ 01 gói được gói bằng bao potylen (L khai là ma túy đá), 01 điện thoại di động, 01 ví da, 01 xe mô tô.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 15/02/2018 và Kết luận giám định số 328/KL-PC54(MT) ngày 15/02/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận:
Mẫu tinh thể màu trắng thu giữ của Bạch H L gửi tới giám định là ma túy tổng hợp (Methamphetamine), có tổng khối lượng 0,315 gam.
Tại bản cáo trạng số 185/VKS-HS ngày 24/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Bạch H L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bạch H L mức án từ 12 đến 15 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,315 gam ma túy (Methamphetamine).
Bị cáo nhận tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt mà không có ý kiến tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vinh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung:
2.1. Xét hành vi phạm tội: Xét lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ, được tranh tụng tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định: Vào hồi 22h00’ ngày 14/02/2018, tại khu vực đường D , thuộc phường Tr thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, Bạch H L đang cất giữ 01 gói ma túy (Methamphetamine) có tổng khối lượng 0,315 gam để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
2.2. Xét tính chất vụ án và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tội phạm thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi cất dấu ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng do thiếu bản lĩnh, không làm chủ được bản thân nên đã đi vào con đường phạm tội. Bản thân bị cáo đã từng bị đưa ra xét xử, mặc dầu không coi là tiền án, tiền sự nhưng thể hiện nhân thân xấu. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết nhằm giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, cũng cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì khai báo thành khẩn. Gia đình bị cáo có công với cách mạng. Tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
2.3. Về hình phạt bổ sung: xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản riêng nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung.
2.5. Về vật chứng: 0,315 gam ma túy (Methamphetamine) thu giữ của bị cáo là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc điện thoại Samsung và 01 chiếc ví da thu giữ của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Lê Thị H (là vợ bị cáo L )
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave , biển kiểm soát 37N1-57467 thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chị Hồ Thị T cho Bạch Hưng H mượn, cơ quan điều tra Công an thành phố Vinh đã trả lại cho chị T .
Đối với Bạch Hưng H đi cùng với Bạch H L nhưng không biết Linh có hành vi cất giữ ma túy nên không phạm tội.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: bị cáo Bạch H L 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 15/02/2018.
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong có chứa ma túy (Methamphetamine) hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vinh theo phiếu nhập kho số NK892 ngày 16/5/2018.
Căn cứ khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc Bạch H L phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ các điều 331, 332 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận - VKSNDTP Vinh; - Cơ quan CSĐT CA TP Vinh; - Chi cục THADSTP Vinh; - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An; - Trai giam CA tỉnh Nghệ An; - Bị cáo; - Lưu HS vụ án. TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Vào hồi.....giờ.....ngày 17 tháng 01 năm 2018; Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:) Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy Thẩm 09/5/2000 tại thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An; Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU: của Bộ luật hình sự năm 1999. bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án phạt tù nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 12/9/2017 đến ngày 21/9/2017. Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong có chứa ma túy (cần sa). Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia. Ma túy và điện thoại có tại Chi cục 19/12/2017. Số tiền có tại Kho bạc nhà nước Nghệ An theo Giấy nộp tiền số CT0004734 ngày 24/10/2017. quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc Phạm Phúc Mạnh phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. sự năm 2003, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, luật sư bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. 2018. xử cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | T.M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thúy CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Tại: phòng nghị án - Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh nghệ An Các Hội thẩm nhân dân : Ông Bùi Anh Phong – Ông Nguyễn Công Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 4432017/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2017 đối với: Bị cáo Phạm Phúc Mạnh, sinh ngày Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả Căn cứ khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 69, Điều 74 Xử phạt: bị cáo Phạm Phúc Mạnh 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Mua Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự, điểm a, c, đ khoản 2 Thi hành án dân sự thành phố Vinh theo phiếu nhập kho số NK751 ngày Căn cứ Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Điều 23 Nghị Căn cứ vòa các điều 231, 232, 233 và Điều 234 của Bộ luật tố tụng hình Nghị án kết thúc vào hồi…....giờ..….phút..…, ngày 17 tháng 01 năm Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |