vanban.org

Bản án 204/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Đông Anh, TP. Hà Nội Tuyên án 18/12/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian tạm gi…

VKS ND huyện Đông Anh; Công an huyện Đông Anh; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn T - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian tạm gi…
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG ANH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 204/2018/HSST
Ngày 18/12/2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Trung Trực Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Giang. Ông Hoàng Quang Lịch.

- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Duy Khoa - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Anh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 18/12/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 208/2018/HSST ngày 03/12/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 213/2018/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Văn T, sinh ngày 08 tháng 02 năm 1990 tại Thanh Hóa; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: thôn 6, xã HT, huyện HH, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Lê Văn T và bà Lê Thị T1; Gia đình bị cáo có 06 anh em, bị cáo là con thứ năm; Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 503 ngày 09/11/2018 do Công an huyện Đông Anh lập và trích lục tiền án, tiền sự số 1683964/PV06 ngày 09/11/2018 của Phòng hồ sơ Công an Thành phố Hà Nội, thì bị cáo không có tiền án, tiền sự; bị bắt và tạm giữ từ ngày 08/10/2018 đến ngày 12/10/2018. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú .

Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 20 phút ngày 08/10/2018, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an huyện Đông Anh làm nhiệm vụ tại Tổ 4, thị trấn ĐA, ĐA, Hà Nội, phát hiện bị cáo Lê Văn T có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành khám người theo thủ tục hành chính đã phát hiện: 01 gói giấy bạc màu vàng, kích thước khoảng (01x01)cm bên trong chứa cục bột màu trắng nghi là ma túy Heroin tại túi quần phía trước bên trái; 01 điện thoại di động nhãn hiệu M1 màu đen, số thuê bao: 0985794800, trong túi quần phía trước bên phải. Tổ công tác đã lập biên bản tạm giữ, niêm phong vật chứng rồi đưa Lê Văn T về trụ sở để tiếp tục điều tra làm rõ, đưa vật chứng đi giám định. Tại bản kết luận giám định số 8161/KLGĐ- PC09 ngày 16/10/2018, Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an Thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong có 01 giói giấy bạc màu vàng là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,144 gam. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Văn T tại thôn 6, HT, HH, Thanh Hóa, Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Anh không phát hiện thu giữ được gì. Tại Cơ quan điều tra, Lê Văn T khai nhận: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 08/10/2018, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Lê Văn T thuê xe ôm đến khu vực TS, tỉnh Bắc Ninh với mục đích để mua ma túy. Khi đến nơi, T bảo lái xe ôm đợi còn T một mình đi vào một ngõ nhỏ gặp và mua của một người đàn ông (T không biết tên và địa chỉ cụ thể) đứng ven đường với giá 200.000 đồng được 01 gói giấy bạc bên trong có chứa ma túy Heroin. Sau khi mua được ma túy, bị cáo T đi về và đang đợi xe buýt để đi về khu vực thôn CD, xã TD để sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện. Đối với người bán ma túy cho T, do T không biết tên tuổi, địa chỉ, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ để xử lý. Đối với người lái xe ôm chở T đi Bắc Ninh mua ma túy ngày 08/10/2018, T khai không biết tên tuổi, địa chỉ; do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ. Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu M1 màu đen, kèm sim số 0985794800 là điện thoại của T, không liên quan đến hành vi phạm tội nên ngày 19/11/2018, Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Anh ra quyết định xử lý trả lại bị can T. Tại bản Cáo trạng số 205/CT-VKS ngày 22/11/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh đã truy tố: Bị cáo Lê Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tại phiên tòa: Bị cáo Lê Văn T khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Bị cáo khai tàng trữ 0,144 gam Heroin với mục đích sử dụng cho cá nhân, không có mục đích bán cho người khác kiếm lời. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ Luật Hình sự năm 2015. Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T từ 12 đến 15 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 0,120 gam ma túy loại túy loại Heroine (sau giám định) là vật chứng của vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo Lê Văn T tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ để kết luận: Vào khoảng 15 giờ 20 phút ngày 08/10/2018, tại khu vực Tổ 4, thị trấn ĐA, huyện ĐA, Thành phố Hà Nội, Lê Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,144 gam ma túy loại Heroin tại túi quần phía trước bên trái thì bị bắt giữ. Số ma túy trên, bị cáo T khai để sử dụng cho cá nhân, không có mục đích bán kiếm lời.

Như vậy, hành vi của bị cáo T đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý được quy định Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Điều luật quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển ,sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

…………….

c)Hêrôin, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…………

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý. Hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy còn là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn, tội phạm khác; là một vấn nạn mà xã hội đang lên án và đấu tranh nhằm loại trừ. Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng do thiếu tu dưỡng bản thân, không chấp hành quy định của pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội.

Về tình tiết giảm nhẹ: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ xác định: Bị cáo T khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ thuộc Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Ngoài ra, Hội đồng xét xử còn xét bị cáo lần đầu phạm tội.

Căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự như đã nêu trên; căn cứ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; căn cứ nhân thân người phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung với mức án như đề nghị của Viện kiểm sát đề nghị là thỏa đáng.

Về hình phạt bổ sung: Trước khi phạm tội, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Quá trình bắt giữ, Cơ quan Công an đã thu giữ của bị cáo 0,144 gam ma túy loại Heroine. Sau giám định còn 0,120 gam, Cơ quan điều tra đã chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh. Số ma túy này cần tịch thu tiêu hủy. [5] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. [6] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Anh; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng, đủ quy định của pháp luật tố tụng hình sự; những người tham gia tố tụng không có khiếu nại gì nên Hội đồng xét xử không phải xem xét. Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 08/10/2018 đến ngày 12/10/2018. Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Khoản 2 Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, xử: Tịch thu tiêu hủy 0,120 gam ma túy loại túy loại Heroine đã được niêm phong trong phong bì dán kín có chữ ký của bị cáo Lê Văn T và Giám định viên. (Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/11/2018 giữa Công an huyện Đông Anh và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh). Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước. Án xử công khai, sơ thẩm; bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ