- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bạc Cầm T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 203/2024/HS-ST Ngày 24 tháng 9 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nông Văn Thịnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hà Ngọc Phương.
Ông Nguyễn Thanh Mai.
- Thư ký phiên toà: Bà Lò Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC tham gia phiên toà: Bà Bạc Thị Thoản - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân huyện TC xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 203/2024/TLST-HS ngày 10/9/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 202/2024/QĐXXST-HS ngày 12/9/2024 đối với bị cáo:
Bạc Cầm T; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1974 tại huyện TC, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; nơi cư trú: Bản B, xã BP, huyện TC, tỉnh Sơn La; Trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bạc Cầm E (đã chết) và bà Bạc Thị L, sinh năm 1936; Vợ: Lò Thị P, sinh năm 1977, bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1999 và nhỏ nhất sinh năm 2002.
Tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bị cáo bị b t tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/6/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:
Khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 13/6/2024, Bạc Cầm T đi bộ một mình từ nhà đến xã CP, huyện TC để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến bản XM, xã CP, huyện TC, tỉnh Sơn La T gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Thái đang đứng ở ven đường liên bản (T không biết họ tên, địa chỉ nơi cư trú) 01 gói ma túy được gói bằng nilon màu tr ng bên trong có chứa Heroine và ma túy tổng hợp trộn lẫn với số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng). T cầm gói ma túy vừa mua được cất vào trong túi quần đùi phía trước bên trái đang mặc rồi đi bộ về nhà. Khi T đi về được khoảng 100m thuộc khu vực bản XM, xã CP thì bị tổ công tác Công an xã CP, huyện TC, tỉnh Sơn La phát hiện, b t quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình kiểm tra tổ công tác phát hiện, thu giữ cùng vật chứng gồm: 01 gói nilon màu tr ng bên trong có chứa chất bột cục màu tr ng hồng nghi là Heroine và ma túy tổng hợp trộn lẫn.
Hồi 20 giờ 00 phút ngày 13/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TC, tỉnh Sơn La đã tiến hành cân tịnh số chất ma túy thu giữ của Bạc Cầm T gồm: Chất bột cục màu tr ng nghi là Heroine, có khối lượng: 0,30 gam (Không phẩy ba mươi gam), ký hiệu T1 gửi giám định chất và loại ma túy.
Tại kết luận giám định số: 1285/KL-KTHS ngày 16/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu ký hiệu T1 gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine và loại Heroine (Heroin) có tên khoa học là Diacetylmonrphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số: 57/2022/NĐCP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là: 0,30 gam.
Tổng khối lượng ma túy thu giữ là: 0,30 gam loại Heroine (Heroin) và loại Methamphetamine, có tên khoa học là Diacetylmonrphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số: 57/2022/NĐCP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. (Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định).
Cáo trạng số: 158/CT- VKSTC ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TC đã truy tố bị cáo Bạc Cầm T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Bạc Cầm T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân huyện TC đã truy tố. Bị cáo thừa nhận việc truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội, không oan, sai cho bị cáo.
Sau khi kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân huyện TC trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Bạc Cầm T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Bạc Cầm T từ 16 tháng đến 22 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu tr ng; 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.
Miễn toàn bộ án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phần tranh luận, bị cáo Bạc Cầm T thừa nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TC, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Ngày 13/6/2024 bị cáo Bạc Cầm T đã mua 0,30 gam ma tuý, loại Methamphetamine và Heroine trộn lẫn nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác công an huyện TC phát hiện, b t quả tang tại bản XM, xã CP, huyện TC, tỉnh Sơn La. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với toàn bộ chứng cứ trong quá trình điều tra như: Biên bản b t người phạm tội quả tang lập hồi 14 giờ 00 phút ngày 13/6/2024 của công an huyện TC, tỉnh Sơn La; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại vật chứng; Biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định; Kết luận giám định số: 1285/KL-KTHS ngày 16/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La và phù hợp với toàn bộ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Bạc Cầm T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số: 158/CT- VKSTC ngày 09 tháng 9 năm 2024 của VKSND huyện TC truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản nêu trên của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, biết rõ chất ma túy là chất Nhà nước nghiêm lưu hành, nhưng bị cáo vẫn cố ý tàng trữ ma túy với mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho các đối tượng hám lời có cơ hội lưu thông buôn bán ma túy.
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, tại phiên tòa tỏ ra ăn năn hối cải, ngoài ra bị cáo là người đang sinh sống trong vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, bố bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến nên cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phần nào cho bị cáo.
Về hình phạt đối với bị cáo: Trên cơ sở căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời để răn đe và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra xác minh xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định và là đối tượng sử dụng ma tuý nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án: Đối với 01 mảnh nilon màu tr ng; 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu xét không còn giá trị sử dụng, cần tuyên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Bị cáo khai tổng số ma tuý thu giữ là 0,30 gam do bị cáo mua của người đàn ông dân tộc Thái ở khu vực bản XM, xã CP, huyện TC, tỉnh Sơn La vào ngày 13/6/2024. Quá trình điều tra xác định bị cáo không biết tên địa chỉ của người này, việc mua bán ma tuý không ai biết, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ mở rộng điều tra. Buộc bị cáo Bạc Cầm T phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng khối lượng ma tuý đã thu giữ trong vụ án.
Về án phí: Bị cáo Bạc Cầm T là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên toà bị cáo xin được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoàn 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Bạc Cầm T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Bạc Cầm T 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày b t tạm giữ, tạm giam (ngày 13/6/2024).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong có viền màu xanh đỏ, mặt trước ghi: Vật chứng nhập kho vụ Bạc Cầm T - TTTPCMT, b t ngày 13/6/2024. Mặt sau phong bì, dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La số: 062981 đè lên các mép dán của phong bì, trên giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong, người bị b t và 02 hình dấu đỏ của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TC, tỉnh Sơn La. Tại hai mép trái, phải của phong bì có dán băng dính màu tr ng. Bên trong có: 01 (Một) mảnh nilon màu tr ng và 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04 tháng 9 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện TC và Chi cục Thi hành án dân sự huyện TC).
3. Án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 BLTTHS: Bị cáo Bạc Cầm T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Sơn La; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Thuận Châu (02 bản); - CQCSĐT - CA huyện TC; - Chi cục THADS huyện TC; - Những người tham gia tố tụng; - Trại tạm giam; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nông Văn Thịnh |