- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị L , Lê Văn L (Đánh bạc) - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị L, bị cáo Lê Văn L phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA Bản án số: 203/2023/HS-ST Ngày: 10/5/2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đình Vụ
2. Bà Đỗ Thị Sinh
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hiến - Thư ký TAND thành phố Thanh
Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Hồng Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 208/2023/ HSST ngày 29 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 215/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2023 và “Thông báo thay thế người tiến hành tố tụng và thời gian mởlại phiên tòa” số 39/TB-TA ngày 04/5/2023 đối với các bị cáo:
1. Lê Thị L; Sinh năm 1987
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Lô …, MB …, phường ĐV, thành phố TH, tỉnh TH; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Lê Trí S, sinh năm 1956 và bà Lê Thị T (đã chết); Chồng: Hoàng Ngọc H, sinh năm 1978; Có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (Có mặt)
2. Lê Văn L; Sinh năm1986
Nơi ĐKTT: Thôn ĐT, xã KT, huyện NL, tỉnh TH; Nơi ở hiện tại: P2.. , N…, CC ĐP, P. ĐV, TP TH, tỉnh TH; Dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Lê Trọng V (đã chết) và bà Trần Thị T, SN 1949; Vợ: Dương Thị H, SN: 1990; có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nhận được tin báo phản ánh về việc đối tượng Lê Thị L có hành vi bán số lô, số đề gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự khu phố. Ngày 10/03/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thanh Hóa tiến hành triệu tập Lê Thị L để làm rõ. Lê Thị L thừa nhận có bán số lô số đề đồng thời giao nộp cho cơ quan điều tra 01 điện thoại di động của L có chứa các tin nhắn liên quan đến việc bán số lô số đề.
Quá trình điều tra xác định: Lê Thị L đã dùng máy điện thoại iphone 11 promax, số sim 0976939499 đăng nhập tài khoản Zalo “Lê L” để gửi và nhận tin nhắn zalo của các đối tượng mua số lô, số đề và bán số lô số đề cho họ với giá 730đồng đến 800đồng/01 điểm đề, 21.700đ đến 22.000đồng/01 điểm lô.
Kiểm tra điện thoại của L xác định L đã thực hiện mua bán số lô số đề cụ thể như sau:
Ngày 04/09/2022, Lê Thị L nhắn tin bán số lô, số đề cho Lê Văn Quyết (sinh năm 1993, trú tại số nhà 120 Lương Đắc Bằng, phường Đông Sơn, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa) qua tài Tài khoản Zalo “Phiêu Du” (L lưu tên trong danh bạ là “Quyết Liệt”) 30 điểm lô xiên, tương ứng số tiền 300.000 đồng. Quyết không trúng thưởng nên số tiền đánh bạc của L và Quyết ngày 04/09/2022 là 300.000 đồng.
Ngày 22/9/2022, Lê Thị L nhắn tin bán cho Lê Văn Quyết 15 điểm lô xiên, tương ứng số tiền 150.000 đồng. Quyết không trúng thưởng nên số tiền đánh bạc của L và Quyết ngày 22/9/2022 là 150.000 đồng.
Ngày 01/10/2022, Lê Thị L bán cho người nam giới tên Bùi Văn H (không rõ nhân thân lai lịch cụ thể) qua tài khoản zalo “Bui Văn Hau”, đăng ký bằng số điện thoại 0973593302, L lưu tên trong danh bạ là “E Hau” 110 điểm đề, 5 điểm lô, tương ứng với số tiền 198.000 đồng, Hậu không trúng thưởng nên số tiền đánh bạc của L và Hậu là 198.000 đồng.
Ngày 02/10/2022, Lê Thị L dùng zalo “LeL” nhắn tin bán cho Lê Văn L qua tài khoản zalo “A L 2” (đăng ký bằng số điện thoại 0856383636) 200 điểm lô và 620 điểm đề, tổng số tiền bán lô đề cho L là 4.896.000 đồng. Đối chiếu với kết quả Xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng ngày 02/10/2022 Lê Văn L thắng số tiền 8.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc giữa Lê Thị L và Lê Văn L là 12.896.000 đồng (mười hai triệu tám trăm chín sáu nghìn đồng). L và L đã thanh toán tiền cho nhau.
Ngày 15/11/2022, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định số 871/QĐ-CSĐT trưng cầu viện Khoa học hình sự - Bộ Công an phục hồi dữ liệu tin nhắn đối với điện thoại của Lê Thị L và Lê Văn Quyết giao nộp.
Tại kết luận giám định số: 7811/KL-C09 ngày 19/12/2022 của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: trong máy điện thoại của Lê Thị L có 203 tin nhắn SMS, 17354 tin nhắn zalo; Máy Điện thoại của Lê Văn Quyết có 180 tin nhắn SMS, 3648 tin nhắn facebook.
Trong số tin nhắn phục hồi, Cơ quan điều tra xác định: Ngoài hành vi bán số lô, số đề cho Quyết, Hậu, Long (nêu trên), trong khoảng thời gian từ ngày 26/02/2022 đến ngày 29/8/2022 Lê Thị L còn thông qua mạng xã hội zalo thực hiện hành vi mua bán số lô, số đề với các đối tượng Phạm Văn Hảo, Lê Văn Quyết, Trần Đăng Lân, Đào Thị Lan, Bùi Văn Hậu. Song tổng số tiền mỗi lần mua bán lô đề của Lê Thị L và các đối tượng nêu trên đều dưới 5.000.000 đồng.
Cách thức chơi (mua bán)số lô số đề và tính thắng thua như sau:
Đối với hình thức chơi số lô, số đề: Người chơi (người mua) phải trả tiền để được chọn (mua) số lô số đề. Số lô, số đề là số có 2 chữ số bất kì trong dãy số tự nhiên từ 00 đến 99; Lô xiên là các bộ gồm 2 số hoặc 3 số lô lẻ (tương ứng lô xiên 2 hoặc xiên 3). Kết quả trúng số đề căn cứ vào 2 chữ số cuối giải đặc biệt của kết quả xổ số miền Bắc được mở thưởng cùng ngày; Kết quả trúng số lô được căn cứ vào 2 chữ số cuối của tất cả các giải của kết quả xổ số miền Bắc được mở thưởng cùng ngày. Nếu số đề mà người chơi đã chọn (mua) trùng với 2 số cuối của giải đặc biệt thì người chơi trúng đề. Nếu số lô người chơi đã chọn (mua) trùng với 2 số cuối của bất kỳ giải nào trong các giải của kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng cùng ngày thì người chơi trúng lô. Nếu bộ 2 số hoặc 3 số (lô xiên 2 hoặc xiên 3) người chơi đã chọn (mua) trùng với 2 giải hoặc 3 giải trong các giải của kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng cùng ngày thì người chơi trúng lô xiên 2 (hoặc xiên 3)
Nếu trúng đề người mua được nhận từ người bán 70.000 đồng/điểm đề; Nếu trúng lô người mua được nhận từ người bán 80.000 đồng/điểm lô; Nếu trúng lô xiên 2 người mua được nhận từ người bán 120.000đồng/điểm; Trúng lô xiên 3 người mua được nhận từ người bán 400.000đồng/điểm.
Nếu số lô số đề mà người mua đã chọn (mua) không trùng với giải nào trong kết quả xổ số miền Bắc được mở thưởng cùng ngày (người mua không trúng lô, trúng đề) thì người mua mất số tiền đã trả cho người bán để mua số lô số đề.
Số đề khi gửi qua tin nhắn được ký hiệu là “Đề” hoặc “De”; Số lô được ký hiệu là “Lo” hoặc “Lô”; Lô xiên 2 hoặc xiên 3 được ký hiệu là “X2” hoặc “X3”. Sau khi khách gửi tin mua số lô số đề qua tin nhắn cho L, nếu đồng ý bán cho người chơi các số lô, đề, lô xiên mà họ đã chọn thì L nhắn tin trả lời “Ok” để xác nhận.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được thu thập, đối chiếu với kết quả sổ xố miền Bắc mở thưởng cùng ngày, đủ cơ sở chứng minh tổng số tiền đánh bạc dưới hình thức mua, bán số lô, số đề của bị cáo Lê Thị L với Lê Văn Long vào ngày 10/02/2022 là 12.896.000 đồng; Số tiền mua bán số lô số đề của Lê Thị L với Hảo, Quyết, Lân, Đào Thị Lan, Hậu vào các ngày khác đều dưới 5.000.000 đồng/01 lần chơi. Bản thân Hảo, Quyết, Lân, Đào Thị Lan và bị cáo Lê Thị L đều không có tiền án tiền sự về tội đánh bạc nên những lần mua bán lô đề dưới 5.000.000đ không cấu thành tội đánh bạc, Cơ quan điều tra đã đề nghị Công an TP.Thanh Hóa xử phạt hành chính với Hảo, Quyết, Lân, Đào Thị Lan và bị cáo Lê Thị L.
Đối với người sử dụng tài khoản zalo “Bùi Văn Hậu”, sau khi tra cứu thông tin số điện thoại 0973593302 xác định người đăng ký sim là Bùi Văn Hậu, sinh năm 1990, trú tại Phố 3, P.Quảng Hưng, TP.Thanh Hóa. Quá trình làm việc Hậu không thừa nhận hành vi sử dụng tài khoản zalo “Bùi Văn Hậu” nhắn tin mua số lô, số đề với Lê Thị L vì số điện thoại và zalo trên Hậu đã không còn sử dụng do bị mất điện thoại từ năm 2021, hiện ai sử dụng Hậu không biết. Tiến hành cho bị cáo L nhận dạng qua ảnh, bị cáo L xác nhận không phải Bùi Văn Hậu, sinh năm 1990, trú tại Phố 3, P.Quảng Hưng, TP.Thanh Hóa là người mua số lô, số đề của L nên không có căn cứ xử lý Hậu.
Đối với tài khoản Zalo “ManhDung” L khai Hà Đào Văn là người sử dụng zalo này để mua số lô đề của L. Quá trình làm việc Văn khẳng định tài khoản zalo này không phải của Văn, Văn không sử dụng zalo này để đánh bạc với Lê Thị L. Cơ quan điều tra cũng không thu được thông tin về người sử dụng tài khoản zalo “ManhDung”. Ngoài lời khai của L không có tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh hành vi mua số lô số đề của Văn nên không có căn cứ xử lý Văn.
Về vật chứng: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11promax, màu xanh đen, số IMEI: 353947104589705, gắn sim số 0976939499 của Lê Thị L hiện thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.
Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone 6plus, có số IMEI: 353329072076124 lắp sim số 0878653456 thu giữ của Lê Văn Quyết không phải là công cụ phạm tội, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thanh Hóa trả lại cho Quyết.
Điện thoại Lê Văn Long dùng để đánh bạc với L, Long đã làm mất cơ quan điều tra không thu được.
Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thanh Hóa còn xác định Trần Đăng Lân có dấu hiệu cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự với mức lãi suất 4000đồng/01 triệu/01 ngày (tương đương với 144%/năm). Tuy nhiên, các giao dịch đã chấm dứt (các bên đã thanh toán xong) và hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính; Còn 01 giao dịch người vay chưa thanh toán số tiền vay song hai bên đã thống nhất dừng tính lãi, người vay chỉ còn phải trả tiền gốc. Cơ quan điều tra xác định tổng số tiền thu lời bất chính của Trần Đăng Lân là 5.958.889 đồng, chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan điều tra chuyển Công an TP.Thanh Hóa đề nghị Chủ tịch UBND TP.Thanh Hóa ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Không đăng ký ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự mà cho vay tiền có cầm cố tài sản hoặc không cầm cố tài sản nhưng lãi suất cho vay vượt quá tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự”, quy định tại điểm đ, khoản 4, điều 12, nghị định 144/2021/NĐ-CP
Quá trình điều tra các bị cáo Lê Thị L, Lê Văn L thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số 156/CT-VKSTPTH ngày 28/3/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa truy tố Lê Thị L, Lê Văn L về tội “đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1,2 điều 51; Điều 58; Điều 65 - Bộ luật hình sự. Tuyên bố Lê Thị L, Lê Văn L phạm tội “Đánh bạc”; Xử phạt: Lê Thị L từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 đến 24 tháng. Xử phạt Lê Văn L từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 đến 18 tháng
Tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước 01 chiếc điện thoại bị cáo L dùng làm phương tiện phạm tội. Truy thu nộp ngân sách Nhà Nước của bị cáo L số tiền 4.896.000đ và bị cáo L số tiền 8.000.000đ; Các bị cáo phải chịu án phí HSST và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi, thừa nhận hành vi phạm tội và xin được hưởng khoan hồng với mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Ngày 02/10/2022 Lê Thị L, Lê Văn L đã có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức mua bán số lô số đề, được thua bằng tiền với nhau. Số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 12.896.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Lê Thị L, bị cáo Lê Văn L đã cấu thành tội đánh bạc. Viện kiểm sát nhân dân TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa truy tố các bị cáo Lê Thị L, Lê Văn L theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án: Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng. Song hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô số đề của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, trật tự an toàn xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật của các bị cáo. Do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đề răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Xét vai trò đồng phạm: Các bị cáo đều là người thực hành, chủ động, trực tiếp thực hiện tội phạm. Tuy nhiên bị cáo L ngoài hành vi đánh bạc với bị cáo L còn có hành vi bán số lô số đề cho các đối tượng khác với số tiền dưới 5.000.000đ do đó phải chịu mức hình phạt cao hơn L.
Xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Các bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ là: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi; Các bị cáo tích cực tham gia đóng góp giúp đỡ trẻ em làng SOS. Do đó các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với hành vi mua bán số lô số đề của bị cáo L với Hảo, Quyết, Lân, Đào Thị Lan do số tiền mua bán số lô đề đều dưới mức để truy cứu trách nhiệm hình sự (dưới 5.000.000 đồng), các đối tượng đều không có tiền án tiền sự về tội đánh bạc, cơ quan điều tra đã đề nghị Công an thành phố Thanh Hóa xử phạt hành chính đối với Hảo, Quyết, Lân, Đào Thị Lan và Lê Thị L là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28 Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ.
Đối với bị cáo Lê Thị L, bị xử phạt hành chính về hành vi bán lô đề dưới 5.000.000đ. Tuy nhiên hành vi này bị phát hiện và xử phạt trong cùng một lần đánh bạc do đó không bị coi là tiền sự; Bản thân bị cáo đã chấp hành xong việc nộp phạt và có đơn xin tự nguyện giao nộp số tiền do phạm tội mà có; Bị cáo cũng đã chấm dứt hành vi mua bán lô đề và không có hành vi vi phạm pháp luật nào khác, đồng thời tích cực tham gia chương trình từ thiện, điều đó thể hiện sự ăn năn hối cãi của bị cáo.
Xét thấy, các bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51; Số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc không lớn; Đây là lần đầu tiên các bị cáo phạm tội; Các bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng; Xét thấy các bị cáo có khả năng tự cải tạo, không cần bắt chấp hành hình phạt tù cũng đủ để răn đe và giáo dục các bị cáo thành người tốt; Đồng thời cũng để các bị cáo thấy rõ sự khoan hồng của pháp luật từ đó yên tâm, tích cực sửa chữa lỗi lầm, hoàn thiện bản thân, trở thành người tốt có ích cho gia đình và xã hội. Do đó HĐXX xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt và áp dụng Điều 65 BLHS cho các bị cáo được hưởng án treo.
Đối với Bùi Văn Hậu, Hà Đào Văn quá trình điều tra không có đủ chứng cứ chứng minh Hậu và Văn có hành vi mua số lô số đề nên cơ quan điều tra không xử lý là đúng.
Vật chứng vụ án: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11promax, màu xanh đen, gắn sim số 0976939499 của Lê Thị L, L đã dùng điện thoại này để gửi và nhận tin nhắn mua bán số lố số đề với L, đây là công cụ phương tiện phạm tội nên tịch thu nộp Ngân sách Nhà Nước theo quy định tại Điều 106 BLTTHS.
[9] Biện pháp tư pháp: Số tiền L bán số lô số đề cho L và số tiền L trúng lô đề là số tiền các bị phạm tội mà có do đó truy nộp Ngân sách Nhà Nước theo quy định tại Điều 106 BLTTHS.
Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 BLTTHS; điều 5; khoản 1 điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016; Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 - của Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị L, bị cáo Lê Văn L phạm tội “Đánh bạc”.
- Xử phạt: Bị cáo Lê Thị L 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Xử phạt: Bị cáo Lê Văn L 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thủ thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Lê Thị L, Lê Văn L cho chính quyền UBND phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
.
- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a,b khoản 2 Điều 106 - BLTTHS: Tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước 01 điện thoại Iphone 11 ProMax, Imel 1: 353947104589705, điện thoại gắn kèm sim. Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy móc bên trong. Vật chứng hiện đang thu giữ theo biên bản giao nhận vật chứng số 161/2023/THA ngày 28/4/2023 giữa Công an thành phố Thanh Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.
- Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46; điểm b khoản 1 Điều 47 - Bộ luật hình sự. Truy thu của Lê Thị L số tiền 4.896.000; Truy thu của Lê Văn L số tiền 8.000.000đ là tiền các bị cáo dùng đánh bạc để nộp Ngân sách Nhà Nước
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 5; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Lê Thị L, Lê Văn L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Lê Thị L, Lê Văn L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các bị cáo; - VKSND thành phố Thanh Hóa; - Công an thành phố Thanh Hóa; - Chi cục THADS thành phố Thanh Hóa; - TAND tỉnh Thanh Hóa; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thị Nga |