- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hồ Thanh P/Trần Thị H"
- Tòa quyết gì? Áp dụng vào các Điều 51, 56, 82, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 203/2022/HNGĐ-ST Ngày : 19-7-2022 V/v:“Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Minh Tấn;
Bà Nguyễn Thị Liên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Vũ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 97/2022/TLST-HNGĐ, ngày 03 tháng 3 năm 2022, về việc:“Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”. Theoquyết định đưa vụ án ra xét xử số: 183/2022/QĐXX-HN ngày 08 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Hồ Thanh P, sinh năm 1985; nơi cư trú: thôn T, xã Ân Phong, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
2. Bị đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1984; nơi cư trú: thôn T, xã Ân Phong, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
(Hiện ở: 166 Hồ Thị N, KP.5, TT. An Thới, TP. Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang); nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ của bên nguyên đơn Anh Hồ Thanh P trình bày:
Năm 2009, anh P làm thợ sửa chữa ô tô tại Thủ Đức, khi đó chị H làm công nhân may túi xách gần đó nên quen nhau. Chị Trần Thị H quê ở Quảng Nam, gia đình của chị H làm biển tại huyện đảo Phú Quốc. Anh P và chị H kết hôn năm 2010, đăng ký kết hôn tại UBND xã Ân Phong, có tổ chức cưới tại xã Ân Phong và tại Phú Quốc. Sau đó vợ chồng thuê nhà ở tại số 11 đường số 04, khu phố 1, phường Tam Bình, quận Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh. Vợ chồng anh P, chị H có 01 con chung tên Hồ Anh K, sinh ngày 03/3/2012.
Theo trình bày của anh P: Năm 2018, vợ chồng không cãi nhau, không mâu thuẫn gì, chị H tự nhiên bỏ chồng con về nhà cha mẹ ruột chị H tên (Trần Văn T, Lâm Thị T) ở tại 166 Hồ Thị N, khu phố 5, TT. An Thới, huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Từ ngày chị H bỏ anh P ra đi không về với anh P và con, chị H làm gì anh P không biết. Đến 19/02/2022, anh P có liên lạc với chị H và xác định hiện chị H đang ở Phú Quốc, anh P có nói chị H về để làm thủ tục ly hôn, chị H trả lời là chị H không về, tự anh P ly hôn. Hiện nay hộ khẩu của chị Trần Thị H vẫn còn tại gia đình anh P ở thôn T, xã Ân Phong, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
Nay anh P xác định giữa anh P và chị H không còn tình cảm, anh Pg yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh Phương ly hôn với Trần Thị H.
Về nuôi con: Anh P yêu cầu nuôi con chung Hồ Anh K, sinh ngày 03/3/2012, anh P tự nguyện không yêu cầu chị H cấp dưỡng.
Về tài sản: Anh P không yêu cầu giải quyết.
- Bị đơn, chị Trần Thị H trình bày: Chị H đồng ý với lời khai của anh P tại Tòa án huyện Hoài Ân. Chị H tự nguyện đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của anh P.
Về nuôi con, chị H đồng ý như yêu cầu của anh P, chị H được quyền thăm nom, săn sóc con chung.
Về tài sản: Chị H không yêu cầu giải quyết.
- Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân tham gia phiên tòa, phát biểu:
+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán giải quyết vụ án, thư ký tiến hành tố tụng, Hội thẩm nhân dân tham gia Hội đồng xét xử đều tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về nội dung giải quyết: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, giao con chung Hồ Anh K, sinh ngày 03/3/2012 cho anh nguyên đơn nuôi dưỡng, bị đơn không cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua xem xét toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thẩm quyền: Anh Hồ Thanh P khởi kiện xin ly hôn chị Trần Thị H, nguyên đơn, bị đơn có hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã Ân Phong, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Về quan hệ pháp luật: Tòa án thụ lý sơ thẩm vụ án và xác định là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã thực hiện thủ tục giao nhận tài liệu, chứng cứ; tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai tài liệu chứng cứ; hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quyền, nghĩa vụ của đương sự: Tòa án đã thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ; giải thích các quy định của pháp luật, bị đơn Trần Thị H không yêu cầu phản tố. Tại phiên tòa, anh P, chị Hcó đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án.
[2]. Xét yêu cầu của anh Hồ Thanh P.
- Về hôn nhân: Mâu thuẫn vợ chồng giữa anh P và chị H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và thực tế hai người không sống chung trên 02 năm nay. Do đó có kéo dài mối quan hệ vợ chồng thì mục đích của hôn nhân cũng không đạt được. Tại Tòa án, cả anh P, chị H đều tự nguyện đồng ý ly hôn nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về nuôi con: Các bên đều đồng ý giao con chung tên Hồ anh K, sinh ngày 03/3/2012 cho anh P nuôi dưỡng, anh P tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về tài sản: Anh P không yêu cầu giải quyết.
[3]. Xét ý kiến của chị Trần Thị H.
- Về hôn nhân: Mâu thuẫn vợ chồng giữa anh P và chị H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và thực tế hai người không sống chung trên 02 năm nay. Do đó có kéo dài mối quan hệ vợ chồng thì mục đích của hôn nhân cũng không đạt được. Tại Tòa án, chị H đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của anh P nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về nuôi con: Chị H đồng ý giao con chung tên Hồ anh K, sinh ngày 03/3/2012 cho anh P nuôi dưỡng, anh P tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nên Hội dồng xét xử chấp nhận.
- Về tài sản: Chị H không yêu cầu giải quyết.
[5]. Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân tham gia phiên tòa phát biểu:
- Về thủ tục tố tụng là đảm bảo nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
- Về nội dung giải quyết: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của Hồ Thanh P được ly hôn với Trần Thị H; giao con chung Hồ Anh Kh, sinh ngày 03/3/2012 cho anh P nuôi dưỡng, chị H không cấp dưỡng nuôi con. Đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
[6]. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; tuyên buộc anh Phương nộp án phí.
Vì các lẽ trên; Căn cứ vào khoản 1 Điều 235, khoản 1 Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng vào các Điều 51, 56, 82, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của anh Hồ Thanh P được ly hôn chị Trần Thị H.
- Về nuôi con: Giao con chung Hồ Anh K, sinh ngày 03/3/2012 cho anh P nuôi dưỡng, chị H không cấp dưỡng nuôi con; chị H được quyền thăm nom, săn sóc con chung.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản: Các bên không yêu cầu giải quyết.
2. Về án phí sơ thẩm ly hôn:
- Anh Hồ Thanh Pnộp 300.000 đồng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0010516 ngày, 28/02/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Ân.
3. Các bên đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Định; - VKSND huyện; - Chi cục THADS huyện; - UBND Xã Ân Phong; - Đương sự; - Luu HSVA. | TM. HỘI DỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Vân |