- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Ngọc H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2021/HS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Quảng Nam về phần hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 203/2021/HS-PT Ngày: 26-8-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thiện.
Các Thẩm phán:
Ông Võ Minh Diệp;
Ông Nguyễn Hữu Thịnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tiến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Đệ - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 182/2021/TLPT-HS ngày 02 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2021/HS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Quảng Nam.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thị Ngọc H (Tên gọi khác: T), sinh năm 1980; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố 1, thị trấn K, huyện P, tỉnh Quảng Nam; trình độ học vấn: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Buôn bán; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Hữu Diên (chết) và bà Huỳnh Thị Giỏi, sinh năm 1958; bị cáo có chồng là Phan Văn Sáu, sinh năm 1974 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2000 và con nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 11 giờ 15 phút ngày 29/01/2021, trước trụ sở Công ty TNHH Phước Hưng thuộc Tổ dân phố số 1, thị trấn K, huyện P, tỉnh Quảng Nam, lực lượng Công an huyện P, tỉnh Quảng Nam đang làm nhiệm vụ thì phát hiện Nguyễn Thị Ngọc H (T) đang bán trái phép chất ma túy cho ông Trần Văn H1 (P) nên yêu cầu kiểm tra. Qua kiểm tra đã phát hiện trong túi quần Jean phía sau bên trái của ông Trần Văn H1 đang mặc có 01 gói giấy màu trắng bên trong có chứa nhiều cục và bột chất rắn màu trắng, ông Trần Văn H1 khai nhận chất rắn dạng cục và bột màu trắng là ma túy, loại Heroine vừa mới mua của Nguyễn Thị Ngọc H với giá 1.000.000 đồng nhằm mục đích để sử dụng. Kiểm tra phát hiện trên tay phải của Nguyễn Thị Ngọc H đang cầm 1.000.000 đồng, Nguyễn Thị Ngọc H khai nhận 1.000.000 đồng là do vừa bán 01 gói ma túy cho ông Trần Văn H1 mà có. Lực lượng Công an huyện P, tỉnh Quảng Nam đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Thị Ngọc H và Trần Văn H1, thu giữ tang vật liên quan. Tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của Nguyễn Thị Ngọc H, thu giữ 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất rắn dạng cục và bột màu trắng, Nguyễn Thị Ngọc H khai nhận là chất ma túy, loại Heroine. Nguồn gốc số ma túy trên bị cáo mua của một người đàn ông không rõ lai lịch với giá 5.000.000 đồng vào ngày 27/01/2021 nhằm mục đích để bán lại, bị cáo mới chỉ bán ma túy cho ông Trần Văn H1 lần đầu tiên vào ngày 29/01/2021 thì bị bắt quả tang, còn tối ngày 28/01/2021 bị cáo không có bán ma túy cho ông Trần Văn H1, ngoài ra bị cáo chưa bán ma túy cho ai trước đó.
Vật chứng thu giữ:
+ 01 gói giấy màu trắng bên trong có chứa nhiều cục và bột chất rắn màu trắng nghi là ma túy thu giữ trên người ông Trần Văn H1, được niêm phong trong phong bì ký hiệu 01;
+ 01 gói giấy màu trắng bên trong có chứa nhiều cục và bột chất rắn màu trắng nghi là ma túy thu giữ tại nhà của Nguyễn Thị Ngọc H, được niêm phong trong phong bì ký hiệu 02;
+ 01 điện thoại di động Nokia màu đen, loại phím bấm có số 0867.011.579;
+ 01 điện thoại di động Nokia màu đen, loại phím bấm có số 0941.014.821;
+ 01 xe máy Wave màu xanh biển kiểm soát 92L2 - 0802;
+ 01 cân điện tử màu đen;
+ 1.000.000 đồng;
+ 01 điện thoại di động FoxFone màu cam đen có số 0367.130.412;
+ 01 điện thoại di động OPPO màu đen;
+ 01 mảnh giấy trắng hình chữ nhật có ghi nhiều chữ và con số.
Tại Kết luận giám định số 157/C09C-Đ2, ngày 04/02/2021 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận:
- Chất rắn màu trắng (dạng cục, bột) trong niêm phong ký hiệu 01 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, khối lượng mẫu 0,08gam.
- Chất rắn màu trắng (dạng cục, bột) trong niêm phong ký hiệu 02 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, khối lượng mẫu 1,13gam.
Với nội dung vụ án như trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2021/HS-ST ngày 25/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Quảng Nam đã quyết định:
Áp dụng: Khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo: Nguyễn Thị Ngọc H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H số tiền 5.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Vào ngày 09/7/2021, bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật. Đồng thời, đã xem xét áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để làm căn cứ xử phạt bị cáo 24 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, không phát sinh tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận, xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H có đơn kháng cáo xin cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt. Xét việc kháng cáo trong hạn luật định theo đúng quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nên kháng cáo của bị cáo là hợp pháp.
Về nội dung vụ án:
Tại các phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ được chứng minh có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 27/01/2021 bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H đã mua 01 gói ma túy của một người đàn ông không rõ lai lịch với giá 5.000.000 đồng nhằm mục đích để bán lại, sau đó ngày 29/01/2021 bị cáo đã bán 01 gói ma túy, loại Heroine có trọng lượng 0,08 gam cho ông Trần Văn H1 với giá 1.000.000 đồng thì bị bắt quả tang. Qua khám xét chỗ ở đã thu giữ của bị cáo 01 gói ma túy, loại Heroine có trọng lượng 1,13 gam. Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2021/HS-ST ngày 25/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Quảng Nam đã kết án bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H thì thấy:
Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để làm căn cứ xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H 24 tháng tù, mức án thấp nhất của khung hình phạt bị truy tố là có cơ sở. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H với số tiền 5.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự là phù hợp. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H nộp 5.000.000 đồng số tiền phạt bổ sung theo quyết định của bản án sơ thẩm tại Biên lai thu tiền số 002332 ngày 25/8/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Quảng Nam; bị cáo cung cấp Đơn xin cứu xét có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính duy nhất nuôi 03 con. Tuy nhiên, mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng là phù hợp, không nặng, đảm bảo tính răn đe giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo về xin giảm nhẹ hình phạt, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.
Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị và Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2021/HS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Quảng Nam về phần hình phạt.
Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo: Nguyễn Thị Ngọc H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng để sung công quỹ Nhà nước. Bị cáo đã nộp xong số tiền phạt bổ sung.
2. Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 26/8/2021).
| N i nh n: - Các cơ quan tiến hành tố tụng; - Những người tham gia tố tụng; - Phòng PV06 Công an tỉnh Quảng Nam; - Phòng HSNV Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu Tòa Hình sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Quốc Thiện |