- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngan hang chinh sach - Nguyen Van P"
- Tòa quyết gì? Về hình thức: Xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 203/2021/DS-ST Ngày: 15 - 12 -2021 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hòa Bình;
2. Bà Nguyễn Thị Xuân Trinh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thơm - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 15 tháng 12 năm 2021 tại Tòa án nhân dân Quận 7, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 178/2021/TLST-DS ngày 11 tháng 6 năm 2021 về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 167/2021/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 11 năm 2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng CS; địa chỉ trụ sở: Số 169 Linh Đường, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết Thắng – Chức vụ: Tổng giám đốc Ngân hàng CS. Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Bà Nguyễn Xuân Duyên, sinh năm 1979; địa chỉ: Ấp 1, khu dân cư Phú Xuân, xã Phú Xuân, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh. (Giấy ủy quyền số 28/PGD-GUQ ngày 22/4/2021). Có đơn yêu cầu vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1969; địa chỉ: Số 23/5 đường Phan Huy Thục, khu phố 2, phường Tân Kiểng, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn yêu cầu vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn tại đơn khởi kiện ngày 22/4/2021, trong quá trình giải quyết có bà Nguyễn Xuân Duyên là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 08/6/2006, Ngân hàng CS (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) cho ông Nguyễn Văn P vay số tiền 7.000.000 (Bảy triệu) đồng thuộc chương trình cho vay hộ nghèo, mục đích vay lắp ráp trò chơi điện tử, lãi suất cho vay là 0,65%/tháng, thời hạn vay là 12 tháng, không thế chấp, thời hạn trả nợ là ngày 09/6/2007 theo Giấy đề nghị vay vốn ngày 24 tháng 5 năm 2006. Khi đến hạn trả nợ, ông Phú có đề nghị với Ngân hàng hỗ trợ kéo dài thời gian trả nợ nên Ngân hàng đã đồng ý kéo dài thời gian trả nợ cho ông Phú đến ngày 07/8/2009. Nay khoản nợ của ông Phú đã quá hạn nhưng ông Phú không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng.
Tính đến ngày 15/12/2021, ông Phú còn nợ Ngân hàng CS số tiền là 13.470.385 (Mười ba triệu, bốn trăm bảy mươi ngàn, ba trăm tám mươi lăm) đồng, trong đó nợ gốc là 6.500.000 (Sáu triệu, năm trăm ngàn) đồng, nợ lãi là 6.970.385 (Sáu triệu, chín trăm bảy mươi ngàn, ba trăm tám mươi lăm) đồng.
Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi cho nguyên đơn. Trả làm một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Lãi suất tiếp tục tính theo mức lãi suất quy định tại Giấy đề nghị vay vốn ngày 24 tháng 5 năm 2006 cho đến khi bị đơn thanh toán nợ dứt điểm cho Ngân hàng.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Xuân D xác định chỉ khởi kiện cá nhân ông Nguyễn Văn P trả nợ, khoản nợ không liên quan đến bất kỳ ai khác.
Bị đơn ông Nguyễn Văn P tại bản tự khai đề ngày 01/7/2021 trình bày:
Ngày 08/6/2006 tại Phòng giao dịch Ngân hàng CS huyện Nhà Bè ông có vay của Ngân hàng CS số tiền 7.000.000 (Bảy triệu) đồng thuộc chương trình cho vay hộ nghèo. Mục đích vay lắp ráp trò chơi điện tử. Lãi suất 0,65%/ tháng. Thời hạn vay 12 tháng, không thế chấp. Hạn trả nợ là ngày 08/6/2007. Khi đến hạn trả nợ, ông có đề nghị Ngân hàng hỗ trợ kéo dài thời gian trả nợ và Ngân hàng đã kéo dài thời gian trả nợ cho ông đến ngày 07/8/2009. Ông xác nhận còn nợ số tiền gốc và lãi như trong đơn khởi kiện. Nay đã quá hạn trả nợ và ông không có khả năng thanh toán theo yêu cầu của Ngân hàng do đó ông đề nghị Ngân hàng không tính lãi suất và ông đồn ý trả tiền nợ gốc với phương án trả nợ như sau:
- Ngày 01/9/2021 trả 1.000.000 đồng
- Ngày 01/10/2021 trả 1.000.000 đồng
- Ngày 01/11/2021 trả 1.000.000 đồng
- Ngày 01/12/2021 trả 1.000.000 đồng
- Ngày 01/01/2022 trả 1.000.000 đồng
- Ngày 01/02/2022 trả 1.000.000 đồng
- Ngày 01/3/2022 trả 500.000 đồng
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn đều có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
1.1 Nguyên đơn Ngân hàng CS khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn P phải trả cho Ngân hàng CS toàn bộ số dư nợ còn lại của Giấy đề nghị vay vốn ngày 24/5/2006. Đây là vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản, bị đơn – ông Nguyễn Văn P có địa chỉ cư trú tại Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh theo khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
1.2 Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn đều có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về yêu cầu khởi kiện của đương sự:
Ngân hàng CS khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn P trả tổng số nợ tính đến ngày 15 tháng 12 năm 2021 là 13.470.385 (Mười ba triệu, bốn trăm bảy mươi ngàn, ba trăm tám mươi lăm) đồng, trong đó nợ gốc là 6.500.000 (Sáu triệu, năm trăm ngàn) đồng, nợ lãi là 6.970.385 (Sáu triệu, chín trăm bảy mươi ngàn, ba trăm tám mươi lăm) đồng theo Giấy đề nghị vay vốn ngày 24/5/2006, yêu cầu trả làm một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ theo các quy định tại Giấy đề nghị vay vốn ngày 24/5/2006, sổ lưu theo dõi cho vay – thu nợ – thu lãi – dư nợ, bảng tính lãi và bảng lịch sử thanh toán mà hai bên đã ký kết cùng với lời trình bày, xác nhận của các bên đương sự có đủ cơ sở xác định nguyên đơn có cho bị đơn vay số tiền gốc là 7.000.000 đồng, thời hạn vay là 12 tháng tính từ ngày 08/6/2006, lãi suất vay là 0,65%/tháng.
Quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn chỉ thanh toán được số tiền 3.812.496 đồng và vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tổng số nợ tính đến ngày 15 tháng 12 năm 2021 là 13.470.385 (Mười ba triệu, bốn trăm bảy mươi ngàn, ba trăm tám mươi lăm) đồng, trong đó nợ gốc là 6.500.000 (Sáu triệu, năm trăm ngàn) đồng, nợ lãi là 6.970.385 (Sáu triệu, chín trăm bảy mươi ngàn, ba trăm tám mươi lăm) đồng, là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Khoản 2 Điều 91, Khoản 1 Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010.
Về thời hạn trả nợ: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền còn nợ một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Xét thấy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên với yêu cầu này của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền 13.470.385 (Mười ba triệu, bốn trăm bảy mươi ngàn, ba trăm tám mươi lăm) đồng được chấp nhận nên phía bị đơn phải chịu tiền án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 91, Điều 147, Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Điều 266 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 91, Khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Luật phí, lệ phí và Khoản 1 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Xử:
1. Về hình thức: Xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
2. Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng CS.
2.1 Buộc ông Nguyễn Văn P phải thanh toán cho Ngân hàng CS tổng số nợ tính đến ngày 15 tháng 12 năm 2021 là 13.470.385 (Mười ba triệu, bốn trăm bảy mươi ngàn, ba trăm tám mươi lăm) đồng, trong đó nợ gốc là 6.500.000 (Sáu triệu, năm trăm ngàn) đồng, nợ lãi là 6.970.385 (Sáu triệu, chín trăm bảy mươi ngàn, ba trăm tám mươi lăm) đồng theo Giấy đề nghị vay vốn ngày 24 tháng 5 năm 2006, trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực thi hành.
Kể từ ngày 16 tháng 12 năm 2021, ông Nguyễn Văn P còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị vay vốn ngày 24 tháng 5 năm 2006 ký kết giữa Ngân hàng CS cho đến khi thi hành án xong.
2.2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Văn P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 673.519 (sáu trăm bảy mươi ba ngàn, năm trăm mười chín) đồng, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2.3. Quyền yêu cầu thi hành án, thời hiệu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án:
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 1, Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
3. Quyền kháng cáo: Ngân hàng CS và bị đơn ông Nguyễn Văn P vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND TpHCM; - VKSND Q7; - Chi cục THADS Q7; - Các đương sự; - Lưu, hồ sơ (Thơm). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Diễm Phương |