vanban.org

Bản án 203/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Cầu Giấy, TP. Hà Nội Tuyên án 10/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đ phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Bị cáo Đ 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 08/3/2020 đến ngày 18/3/2020. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Tiến Đ - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đ phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 203/2020/HSST
Ngày: 10/08/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị T Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Mạnh Hùng.

Bà Bùi Thị Minh Hoa.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thanh Bình - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy tham gia phiên toà: Ông Phạm Hồng H- Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 08 năm 2020 tại Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 203/2020/TLST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 213/2020/QĐXXST-HS ngày 27/7/2020 đối với bị cáo:

Đ, sinh năm 1996, tại Hà Nội; Nơi ĐKHKTT: số 12A, xóm 3, phường V, quận B, thành phố Hà Nội; Chỗ ở hiện tại: số 8E, đường 10, phường P, quận B, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông T và bà M; Tiền án: không; Tiền sự: không; Danh bản, chỉ bản số 202 do Công an quận Cầu Giấy lập ngày 31/3/2020. Bị bắt quả tang ngày 08/3/2020, bị tạm giữ từ ngày 09/3/2020 đến ngày 18/3/2020. Hiện bị cáo áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Ông H, sinh năm 1977.

HKTT: Số 113 C, quận H1, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

- Chị T, sinh năm 2001.

HKTT: P404-A13 T1, quận T2, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 08/03/2020, tại trước cửa số 65 phố T3, phường N, quận C, tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an quận Cầu Giấy bắt quả tang Đ và H2, sinh năm: 2001 (HKTT: số 102 ngõ 32 M, C, Hà Nội) đang có hành vi giao dịch mua bán trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã T giữ bên trong chiếc tạp dề Đ đang đeo trên người: 01 (Một) túi nilon bên trong chứa thảo mộc khô. Tại chỗ, Đ khai nhận thảo mộc khô trong túi nilon là ma túy cần sa Đ mang đi bán cho H. Tổ công tác đã lập biên bản niêm phong, T giữ tang vật và đưa Đ, H về trụ sở để làm việc. Ngoài ra tổ công tác còn T giữ của Đ: 01 (Một) điện thoại Iphone 6s plus, 01 (Một) xe máy nhãn hiệu Honda cup màu xanh, BKS: 29F3-6170. T giữ của H: 01 (Một) điện thoại di động Masstell màu đen trắng đã qua sử dụng và số tiền 1.000.000 (Một triệu) đồng.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Đ tại địa chỉ: số 8E, đường 10 phường P, quận B, thành phố Hà Nội, Cơ quan điều tra không T giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.

Kết luận giám định số 2014/KLGĐ-PC09 ngày 17/3/2020 của Phòng kỹ Tật hình sự- Công an thành phố Hà Nội kết luận: Thảo mộc khô bên trong 01 (Một) túi nilon là Cần sa, khối lượng 8,121 gam.

Tại cơ quan điều tra, Đ khai: Khoảng 14 giờ ngày 08/3/2020, Đ sử dụng tài khoản tên “WIZDA” của ứng dụng Telegram để nhắn tin tìm bạn làm quen thì thấy tài khoản tên “chiennguyen” của H2 hỏi mua Cần sa. Qua nói chuyện, H muốn mua của Đ 2.000.000 (Hai triệu) đồng tiền Cần sa, và hẹn giao Cần sa tại địa chỉ số 65 phố T3, N, Cầu Giấy, Hà Nội. H để lại số điện thoại 0564.738.035 để Đ liên lạc. Khoảng 19 giờ cùng ngày, Đ điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda màu xanh, BKS: 29F3- 6170 đi đến khu vực bãi rác Thành Công gặp và mua được 01 (Một) túi nilon cần sa với giá 1.400.000 (Một triệu bốn trăm nghìn) đồng của một người đàn ông không quen biết. Đ cất túi cần sa vào trong túi trước tạp dề đang đeo và đi xe máy về trước số 65 đường T3, Cầu Giấy, Hà Nội. Khi đến nơi, Đ gặp H nhưng chưa kịp giao ma tuý thì bị lực lượng công an bắt quả tang cùng tang vật. Đ khai đây là lần đầu đi bán ma tuý, nếu bán trót lọt, Đ được hưởng lợi 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn) đồng.

Xét nghiệm nước tiểu của Đ cho kết quả dương tính với ma tuý.

Lời khai của H2 phù hợp với lời khai của Đ, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Đối với H2 là đối tượng mua ma tuý của Đ nhưng chưa nhận được ma tuý nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý hình sự.

Xét nghiệm nước tiểu của H2 cho kết quả âm tính với ma tuý.

Đối với tang vật T giữ, quá trình điều tra xác định:

- 01 (Một) điện thoại Iphone 6s plus lắp sim số: 0326.438.596; 01 (Một) điện thoại di động Masstell màu đen trắng, lắp sim số: 0564.738.035 và số tiền 1.000.000 (Một triệu) đồng, được sử dụng vào việc mua bán trái phép chất ma tuý.

- Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda cup màu xanh, BKS: 29F3-6170, SK: 5539693, SM: 2640475, Đ khai mượn của chị T, sinh năm: 2001 (HKTT: P404-A13 T1, T2, Hà Nội). Tra cứu đăng ký xe mang tên H3, địa chỉ: CTY- KSTK Điện 1, T1, T2, Hà Nội, xe không có trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng. Chị T khai mượn chiếc xe trên của bố là ông H, sinh năm: 1977 (HKTT: 113 C, H1, Hà Nội). Ông H khai mua chiếc xe trên với giá 5.000.000 (Năm triệu) đồng tại khu vực chợ xe Dịch Vọng, Cầu Giấy vào năm 2013. Sau đó ông Hà cho chị T mượn xe để sử dụng. Ngày 08/3/2020, chị T cho Đ mượn xe, việc Đ sử dụng xe để đi bán ma tuý chị T không biết. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho ông H. Sau khi nhận lại tài sản, ông Hà không có yêu cầu gì khác.

Đối tượng đã bán ma tuý cho Đ ở khu vực bãi rác Thành Công, do Đ không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.

Cáo trạng số 203/CT - VKSCG ngày 23/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy truy tố Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Đ, xử phạt bị cáo Đ mức án từ 26 (Hai mươi sáu) đến 32 (Ba mươi hai) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về tang vật đề nghị áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:

- Tịch T tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong bên trong có chứa ma tuý loại Cần sa có chữ ký của Đ và Giám định viên;

- Tịch T sung công quỹ Nhà nước: 01 (Một) điện thoại Iphone 6s plus lắp sim số: 0326.438.596; 01 (Một) điện thoại di động Masstell màu đen trắng, lắp sim số: 0564.738.035 và số tiền 1.000.000 (Một triệu) đồng.

Về dân sự: không.

Tại phiên toà: Bị cáo khai như đã khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận hành vi do mình thực hiện là phạm tội, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo Đ trình bày lời nói sau cùng: bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo đã ăn năn hối hận và mong muốn được sự khoan hồng để có điều kiện cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Cầu Giấy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, bản kết luận giám định, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dụng bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 19h30 ngày 08/3/2020, tại khu vực trước số 65 đường T3, phường N, quận C, Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép 8,121gam ma túy loại Cần sa để bán cho H2 nhưng chưa kịp giao ma tuý thì bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý- Công an quận Cầu Giấy bắt quả tang cùng tang vật.

Hành vi nêu trên của bị cáo Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 điều 251 Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Nhận xét về nhân thân và lượng hình đối với bị cáo: Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất về ma tuý, gây mất trật tự trị an xã hội và gây bất bình trong nhân dân. Tính chất hành vi phạm tội thể hiện: bị cáo là một người đã trưởng thành nhận thức được tác hại của ma tuý đối với bản thân và cộng đồng, mà lại có hành vi vi phạm có liên quan đến ma túy. Do đó, đối với bị cáo cần có mức án nghiêm khắc, nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

Tuy nhiên, khi lượng hình hội đồng xét xử cũng xem xét, tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải, bị cáo chưa có tiền án tiền sự, nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có khả năng thi hành phạt bổ sung bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 251 BLHS. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là có căn cứ, phù hợp với nhận định của HĐXX.

Về tang vật: Áp dụng Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch T tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong bên trong có chứa ma tuý loại Cần sa có chữ ký của Đ và Giám định viên;

- Tịch T sung công quỹ Nhà nước: 01 (Một) điện thoại Iphone 6s plus lắp sim số: 0326.438.596; 01 (Một) điện thoại di động Masstell màu đen trắng, lắp sim số: 0564.738.035 và số tiền 1.000.000 (Một triệu) đồng.

Về dân sự: Ông H đã nhận lại xe máy nhãn hiệu Honda cup màu xanh, BKS: 29F3-6170 và không yêu cầu gì, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Đ phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

- Áp dụng khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015; điểm s khoản 1 của Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 260 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đ 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 08/3/2020 đến ngày 18/3/2020.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:

- Tịch T tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong bên trong có chứa ma tuý loại Cần sa có chữ ký của Đ và Giám định viên;

- Tịch T sung công quỹ Nhà nước: 01 (Một) điện thoại Iphone 6s plus lắp sim số: 0326.438.596; 01 (Một) điện thoại di động Masstell màu đen trắng, lắp sim số: 0564.738.035 và số tiền 1.000.000 (Một triệu) đồng.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 229 GN/THA-CA ngày 28/7/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội và Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 27/7/2020 lập tại Kho bạc nhà nước Cầu Giấy)

3. Về dân sự: Không.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức T, miễn, giảm, T, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Cỡ chữ