vanban.org

Bản án 203/2020/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 30/07/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/07/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo NVL, sửa án sơ thẩm về hình phạt của bị cáo.

Xử phạt: NVL 10 (Mười) tháng tù về tội "Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Án phí: Bị cáo NVL không phải nộp án phí HSPT. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NVL - phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (điều 145 Luật sửa đổi, bổ sun…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo NVL, sửa án sơ thẩm về hình phạt của bị cáo.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 145 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 203/2020/HSPT.
Ngày: 30/7/2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung

Thẩm phán:

Ông Quách Văn Thành

Bà Lê Thi Thủy

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Trịnh Thu Trang - Cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Quốc Hùng – Kiểm sát viên

Ngày 30/7/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 133/2020/HSPT ngày 19/6/2020 đối với bị cáo NVL do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 27/2020/HSST ngày 12/5/2020 của TAND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Bị cáo kháng cáo:

NVL - Sinh năm 1995, tại: xã HB, huyện TG, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn TH, xã HB, huyện TG, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do, trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: NVT và bà NTT; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 12 năm 2018, NVL và cháu PTT, sinh ngày 16/9/2004, trú tại thôn TH, xã HB, huyện TG, tỉnh Thanh Hóa, có nảy sinh quan hệ tình cảm yêu thương nhau. Quá trình yêu nhau giữa NVL và cháu PTT sử dụng các tài khoản của mạng xã hội Facebook có tên “NVL Rót” và “PTT Pham”, “Tam Pham”, để liên lạc và rủ nhau đi chơi. Đến khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 06/5/2019, NVL sử dụng điện thoại nhắn tin rủ cháu PTT đi chơi, thì được PTT đồng ý. Lúc này PTT đang ở Trường trung học cơ sở xã HB nên NVL đã điều khiển xe máy đến đón và chở PTT đến khu vực bãi biển thuộc thôn Tân Vinh, xã HB, huyện TG, tỉnh Thanh Hóa. Tại đây, NVL quan sát thấy không có người xung quanh nên NVL nói PTT ngồi PTT sự, rồi ôm, hôn nhau. Tiếp đó, NVL nói với cháu PTT: “Cho anh” (nghĩa là cho quan hệ tình dục) nhưng PTT không nói gì. Thấy vậy, NVL nghĩ PTT đã đồng ý nên lấy 01 miếng phao xốp gần đó đặt xuống nền đất, rồi đỡ PTT nằm đè lên phao xốp. NVL cởi bỏ quần ngoài, quần lót để lộ âm đạo của PTT, dùng tay sờ vào âm đạo và tiếp tục cởi bỏ quần của mình. Sau đó, NVL dùng tay cầm dương vật đưa vào trong âm đạo của PTT và quan hệ tình dục (giao cấu) ở tư thế PTT nằm ngửa phía dưới còn NVL nằm phía trên đối mặt nhau. Quan hệ được khoảng 03 đến 05 phút, NVL rút dương vật ra khỏi âm đạo của PTT rồi xuất tinh ra bên ngoài. Cháu PTT cảm thấy bị đau khu vực âm đạo nên đã đứng dậy mặc quần rồi đi bộ về nhà.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tình dục đối với PTT số 392/2019/TTPY ngày 17/7/2019 của Trung PTT pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận như sau:

- Âm hộ, âm đạo không có tổn thương; Vú hai bên cân đối; Lông mu dày; Màng trinh rách cũ tại vị trí 5 giờ, 7 giờ, không xác định được thời gian bị rách;

- Tầng sinh môn bình thường; Hậu môn bình thường;

- Không tìm thấy tinh trùng và xác tinh trùng trong dịch âm đạo;

- PTT không có thai.

Quá trình điều tra, cháu PTT còn khai nhận: Ngoài lần quan hệ tình dục vào ngày 06/5/2019, giữa NVL và PTT đã tự nguyện thực hiện 03 lần quan hệ tình dục khác ở những địa điểm khác nhau. Đại diện hợp pháp của bị hại là TTD khai và giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 tờ giấy A4 có chữ viết của NVL với nội dung thể hiện: NVL đã có khoảng 03 đến 04 lần quan hệ tình dục với cháu PTT.

Tuy nhiên, các chứng cứ, tài liệu mà cơ quan điều tra thu thập được chưa đủ cơ sở để xác định NVL có quan hệ tình dục nhiều lần với cháu PTT.

* Về dân sự: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử bị cáo và người đại diện hợp pháp của người bị hại đã thỏa thuận xong về phần dân sự.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 27/2020/HSST ngày 12/5/2020 của TAND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 145; Điều 38; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: NVL (tên gọi khác Rót) 12 (mười hai) tháng tù tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.

Ngày 25/5/2020, NVL có đơn kháng cáo đề nghị tòa phúc thẩm xem xét NVL bản án sơ thẩm số 27/2020/HSST ngày 12/5/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn cho bị cáo được hưởng án treo.

* Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo NVL giữ nguyên kháng cáo xin hưởng án treo và bổ sung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa đề nghị chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo NVL giảm nhẹ cho bị cáo từ 01 – 03 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo NVL có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, do đó vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo NVL khai nhận: Bị cáo và cháu PTT, sinh ngày 16/9/2004 có quan hệ tình cảm yêu đương nên vào khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 06/5/2019 bị cáo và bị hại rủ nhau đi chơi, bị cáo có 01 lần quan hệ tình dục với cháu PTT tại khu vực bãi biển thuộc thôn Tân Vinh, phường HB, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Bị cáo là người đã trưởng thành có nhận thức có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ nhận thức biết rõ quan hệ giao cấu với các bị hại là vi phạm pháp luật, nhưng vì để thỏa mãn về dục vọng không kiềm chế được bản thân đã thực hiện hành vi giao cấu với cháu PTT khi cháu mới 14 tuổi 7 tháng 20 ngày do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội "Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo khoản 1 Điều 145 của BLHS như bản án hình sự sơ thẩm đã xử là đúng người, đúng tội.

Bản thân bị cáo biết cháu PTT dưới 16 tuổi nhưng đã thực hiện hành vi giao cấu với cháu. Hành vi của bị cáo xâm phạm quyền được bảo vệ nhân phẩm, danh dự, ảnh hưởng đến PTT sinh lý, sự phát triển bình thường của bị hại. Vì vậy, việc cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung. Do đó, Tòa cấp phúc thẩm không chấp nhận nội dung kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.

Tuy nhiên, ngoài những tình tiết giảm nhẹ tòa cấp sơ thẩm đã xem xét như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, có thời gian tham gia quân đội, gia đình bị hại đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm được quy định tại các Điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51 BLHS. Sau khi xét xử sơ thẩm đại diện hợp pháp của bị hại tiếp tục có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, đây là tình tiết giảm nhẹ mới của bị cáo ở giai đoạn phúc thẩm. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên thống nhất quan điểm của đại diện VKS chấp nhận một phần kháng cáo giảm cho bị cáo 1 phần hình phạt và áp dụng Khoản 3 Điều 54 BLHS quyết định cho bị cáo một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định là phù hợp

Án phí: Kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm. Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị toà không xem xét.

Vì các lẽ trên

Căn cứ Điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm c Khoản 1 Điều 357 BLTTHS.

QUYẾT ĐỊNH

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo NVL, sửa án sơ thẩm về hình phạt của bị cáo.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 145; điểm b, s khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 38, Khoản 3 Điều 54 BLHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: NVL 10 (Mười) tháng tù về tội "Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Án phí: Bị cáo NVL không phải nộp án phí HSPT.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ