- Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai — án dân sự — "Nguyễn Thị M - Nguyễn Văn T"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu háng cáo của bà Nguyễn hị M.
- Căn cứ chính? Điều 164 Bộ luật Dân sự; Điều 166 Luật Đất đai; Điều 166 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 203/2020/DS-PT Ngày: 30/6/2020 V/v tranh chấp “Đòi quyền sử dụng đất và nhà cho ở nhờ”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Trung Hiếu;
Các Thẩm phán:
Ông Mai Hoàng Khải;
Bà Nguyễn Thị Ánh Phương;
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Hồng Chi, Th
a án nhân dân tỉnh iền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa:-Ông Trương Văn Hòa - Kiểm sát viên.
rong các ngày 23 và 30 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở a án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công hai vụ án dân sự thụ l số: 169/2020/TLPT-DS ngày 30/3/2020 về việc tranh chấp: “Đòi quyền sử dụng đất và nhà cho ở nhờ”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 212/2019/DS-S ngày 30/10/2019 của a án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang bị háng cáo.
Theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử số: 271/2020/QĐ-P ngày 12/5/2020 giữa các đ ơng sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1968; (có mặt).
Địa chỉ: ấp M , xã , huyện C, tỉnh Tiền Giang
2. Bị đơn:
2.1. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1952.
Ng ời đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Phan Thị H, sinh năm 1960; Là ng ời đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (có mặt).
Cùng địa chỉ: ấp M , xã , huyện C, Tiền Giang.
2.2. Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1984 (có mặt).
Địa chỉ: ấp M , xã , huyện C, tỉnh Tiền Giang
3. Ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Phan Thị H, sinh năm 1960 (có mặt).
3.2. Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1982 (xin vắng mặt).
3.3. Chị Trần Thị B, sinh năm 1983 (xin vắng mặt).
3.4. Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1986 (xin vắng mặt).
3.5. Nguyễn Thị Yến N, sinh năm 2003;
3.6. Nguyễn Văn K, sinh năm 2006;
3.7. Nguyễn Văn D, sinh năm 2013;
3.8. Nguyễn Văn K2, sinh năm 2013;
Cùng địa chỉ: ấp M , xã , huyện C, Tiền Giang.
Ng ời đại diện hợp pháp của ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu N, K, D, K2: anh Nguyễn Văn P và chị Trần Thị B. Là ng ời đại diện theo pháp luật (xin vắng mặt).
3.9. Anh Nguyễn Văn D2, sinh năm 1983 (có mặt).
3.10. Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 2005
3.11. Nguyễn Thị Kim T2, sinh năm 2015
Cùng địa chỉ ấp M , xã , huyện C, Tiền Giang
Ng ời đại diện hợp pháp của ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu L, T2: anh Nguyễn Văn D2 và chị Nguyễn Thị Q; Là ng ời đại diện theo pháp luật (có mặt).
3.12. Ông Phan Văn S, sinh năm 1971 (có mặt).
3.13. Bà Trương Thị Thu V, sinh năm 1976 (xin vắng mặt).
3.14. Phan Văn L2, sinh năm 1996 (xin vắng mặt).
3.15. Phan Hồng T3, sinh năm 2008
Cùng đia chỉ: ấp M , xã , huyện C, Tiền Giang.
Ng ời đại diện hợp pháp của ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu 3: ông Phan Văn S và bà r ơng hị Thu V; Là ng ời đại diện theo pháp luật.
3.16. Ông Phan Văn S2 (Nguyễn Văn S2), sinh năm 1969.
Ng ời đại diện hợp pháp của ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông S2: bà Nguyễn Thị M. Là ng ời đại diện theo pháp luật.
Địa chỉ: ấp M , xã , huyện C, tỉnh Tiền Giang.
4. Ng ời háng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị M.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo bản án sơ thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị M trình bày:
Nguồn gốc hai thửa đất số 98, tờ bản đồ 04, diện tích 1.132,1m2 do UBND huyện C cấp giấy chứng nhận ngày 27/10/2014 và thửa số 94, tờ bản đồ số 04, diện tích 465m2 do UBND huyện C cấp giấy chứng nhận ngày 19/11/2014 do ông Nguyễn Văn đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hai phần đất này tr ớc đây là thửa số 322, diện tích 2.037m2 nằm cặp ranh với đất ông Phan Văn S thửa số 321, diện tích 3.898m2 vào năm 1995 thì ông Phan Văn S2(Nguyễn Văn S2) đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cha ông S2 là cụ Phan Văn M2 (chết năm 1993), đã lấy lại số 321, diện tích 3.898m2 cho ông Phan Văn S đứng tên, c n thửa 322, diện tích 2.037m2 năm 1989 cụ M2 cho gia đình ông ở đậu phần đất này, đến năm 1998 thì gia đình ông đã dỡ nhà đi hông ở, đến năm 2010 thì ông và bà H cho chị Q cất nhà ở phần đất này cho tới nay.
Việc ông Nguyễn Văn cấp giấy hai thửa đất số 98, tờ bản đồ 04, diện tích 1.132,1m2 do UBND huyện C cấp giấy chứng nhận ngày 27/10/2014 và thửa số 94, tờ bản đồ số 04, diện tích 465m2 do UBND huyện C cấp giấy chứng nhận ngày 19/11/2014 do ông Nguyễn Văn đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này thì bà M hông biết, từ tr ớc tới nay bà M có sử dụng đ ờng n ớc ngang 3m, dài hoảng 40m trong hai thửa đất trên để làm đ ờng dẫn n ớc vào ruộng.
Do hai thửa đất này tr ớc đây là của ông Phan Văn S2 và bà M, nên nay bà M yêu cầu ông , chị Q và ông S di dời nhà đi nơi hác trả lại 02 thửa đất số 98, tờ bản đồ 04, diện tích 1.132,1m2 (diện tích theo đo đạc thực tế ngày 27/6/2019 của Công ty NHH đo đạc Đông Hải 1.090,7m2) do UBND huyện C cấp giấy chứng nhận ngày 27/10/2019 và thửa số 94, tờ bản đồ số 04, diện tích 465m2 (diện tích theo đo đạc thực tế ngày 27/6/2019 của Công ty NHH đo đạc Đông Hải 513,4m2) do UBND huyện C cấp giấy chứng nhận ngày 19/11/2014 do ông Nguyễn Văn đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hai phần đất này tr ớc đây là thửa số 322, diện tích 2.037m2, đối với các cây trồng và các công trình hác trên đất thì bà M hông đồng hoàn trả lại giá trị các cây trồng và công trình trên đất.
* Bà Phan Thị H là người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:
Ông là chồng của bà H, chị Q là con vào năm 2005 thì ông cho ½ thửa đất số 98, tờ bản đồ 04, diện tích 1.132,1m2 do ông đứng tên, cho chị Q để cất nhà ở cho tới nay, c n phân nữa đất c n lại do chị Nguyễn Thị Đ con của ông xây chuồng heo bỏ cho tới nay. C n thửa số 94, tờ bản đồ số 04, diện tích 465m2 do ông đứng tên thì ông và bà H cho ông Phan Văn S cất nhà ở từ năm 1997 cho tới nay.
Nguồn gốc 02 thửa đất này là của cụ Phan Văn M2 (cha của bà H) cho từ năm 1993, tr ớc đây ông đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sau này đ ợc cấp đổi giấy mới vào ngày 27/10/2014 và ngày 19/11/2014 cho tới nay. Do 02 thửa đất này là của ông đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên nay ông hông đồng trả lại theo yêu cầu khởi kiện của bà M.
*Bị đơn chị Nguyễn Thị Q trình bày:
Chị Q là con của ông và bà H, vào năm 2005 thì ông T cho ½ thửa đất số 98, tờ bản đồ 04, diện tích 1.132,1m2 do ông đứng tên, cho chị Q để cất nhà ở cho tới nay, c n phân nữa đất c n lại do chị Nguyễn Thị Đ em của chị Q xây chuồng heo bỏ cho tới nay. C n thửa số 94, tờ bản đồ số 04, diện tích 465m2 do ông đứng tên thì ông và bà H cho ông Phan Văn S cất nhà ở từ năm 1997 cho tới nay.
Do 02 thửa đất này là của ông đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên chị Q hông đồng trả lại theo yêu cầu khởi kiện của bà M, nếu nh oà án giải quyết trả lại đất cho bà M thì yêu cầu bà M phải hoàn trả lại giá trị nhà, các công trình trên đất và cây trồng theo giá của Hội đồng định giá đã định.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phan Văn S trình bày:
Phần đất thửa số 94, tờ bản đồ số 04, diện tích 465m2 do ông đứng tên thì ông và bà H cho ông Phan Văn S cất nhà ở từ năm 1997 cho tới nay, nguồn gốc phần đất này của cha của ông S là cụ Phan Văn M2 để lại. Nay ông hông đồng với yêu cầu khởi kiện của bà M, nếu nh oà án giải quyết trả lại đất cho bà M thì yêu cầu bà M phải hoàn trả lại giá trị nhà, các công trình trên đất và cây trồng theo giá của Hội đồng định giá đã định.
* Bản án sơ thẩm số 212/2019/DSS ngày 30/10/2019 của a án nhân dân huyện C, tỉnh iền Giang: Áp dụng Điều 164, Điều 166 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, 272, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 166 Luật đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UB VQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí oà án.
Xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn , chị Nguyễn Thị Q và ông Phan Văn S di dời nhà đi nơi hác trả lại 02 thửa đất số 98, tờ bản đồ 04, diện tích 1.132,1m2 (diện tích theo đo đạc thực tế ngày 27/6/2019 của Công ty NHH đo đạc Đông Hải 1.090,7m2) do UBND huyện C cấp ngày 27/10/2014 và thửa số 94, tờ bản đồ số 04, diện tích 465m2 (diện tích theo đo đạc thực tế ngày 27/6/2019 của Công ty NHH đo đạc Đông Hải 513,4m2) do UBND huyện C cấp giấy chứng nhận ngày 19/11/2014 cho ông Nguyễn Văn đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
* Ngoài ra, án sơ thẩm c n tuyên về phần án phí, quyền háng cáo và nghĩa vụ thi hành án của các đ ơng sự theo quy định của pháp luật.
* Ngày 08/11/2019 bà Nguyễn Thị M có đơn háng cáo bản án sơ thẩm của T a án nhân dân huyện C, yêu cầu sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 212/2019/DSS ngày 30/10/2019 của a án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang. Yêu cầu ông Nguyễn Văn , chị Nguyễn Thị Q và ông Phan Văn S di dời nhà đi nơi hác trả lại cho bà M 02 thửa đất số 98, tờ bản đồ số 4, diện tích 465 m2 (đo đạc thực tế là 513,4 m2) do ông đứng tên quyền sử dụng đất tọa lạc tại ấp MT, xã , huyện C, tỉnh Tiền Giang để bà M sử dụng.
ại phiên t a phúc thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn hị M vẫn háng cáo giữ nguyên hởi iện yêu cầu ông Nguyễn Văn , Nguyễn hị Q và ông Phan Văn S phải dỡ nhà trả đất cho bà.
Phía bị đơn hông chấp nhận háng cáo của nguyên đơn, phần đất tranh chấp ông đ ợc ông M2 cho từ năm 1993, ông đã đ ợc nhà n ớc công nhận quyền sử dụng đất, đã canh tác sử dụng ổn định lâu dài cho đến hiện nay.
Đại diện Viện iểm sát nhân dân tỉnh iền Giang xác định quá trình tố tụng, tại phiên t a hẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật, quyền và nghĩa vụ của các đ ơng sự đ ợc thực hiện đầy đủ. Về nội dung, qua vụ án cho thấy phần đất hiện tranh chấp ông Nguyễn Văn đ ợc ông Phan Văn M2 cho từ năm 1993, ông đã đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng, cùng gia đình quản l sử dụng, trong đó có 01 phần cho ông Phan Văn Sáu cất nhà để ở. Bà M iện và háng cáo nh ng hông có cơ sở chứng minh. Viện iểm sát đề nghị hông chấp nhận háng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn hị M.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau hi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đ ợc thẩm tra tại phiên t a, căn cứ và ết quả tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Sau hi bản án sơ thẩm của a án nhân dân huyện C, tỉnh iền Giang đ ợc tuyên vào ngày 30/10/2019. Không đồng với ết quả trên, ngày 08/11/2019 bà Nguyễn hị M nộp đơn háng cáo. Kháng cáo đ ợc thực hiện đúng thủ tục, trong hạn luật định nên đ ợc xem xét tại cấp phúc thẩm.
Về nội dung:
Bà Nguyễn hị M háng cáo cho rằng phần đất tranh chấp tr ớc đây cụ Phan Văn M2 cho chồng bà, ông tự
ê hai và đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cho ông S cất nhà ở, phần c n lại cho con ở và canh tác. Bà M yêu cầu đ ợc trả lại đất.
Bản án dân sự sơ thẩm của a án nhân dân huyện C hông chấp nhận yêu cầu hởi iện của bà M, l do: bà M thừa nhận tr ớc đây cụ Phan Văn M2 là cha chồng bà M quản l hai phần đất đang tranh chấp, năm 1986 cụ M2 cho ông cất nhà ở tạm. Năm 1998, ông cùng gia đình hông c n ở trên đất. Năm 2010, ông cho chị Q là con về cất nhà ở và quản l đất canh tác, trong đó có 01 phần cho ông S cất nhà ở. Quá trình quản l canh tác, ông có đăng và đ ợc cơ quan có thẩm quyền công nhận quyền sử dụng đất. heo ông , ông đ ợc ông M2 chính thức cho vào năm 1993.
Theo bà M thửa đất tranh chấp vợ chồng bà đ ợc cụ Phan Văn M2 cho nh ng chỉ nói miệng, trên đất tr ớc đây bà M có sử dụng 01 đ ờng n ớc để t ới tiêu và 01 lối đi để ra đ ờng công cộng, nay đã bị ông rào chắn lại. Bà M thừa nhận từ tr ớc đến nay bà và gia đình hông có quản l , canh tác thửa đất tranh chấp.
heo công văn số 3225/VPĐK- L , ngày 18/10/2019 của Văn ph ng đăng đất đai - Sở ài nguyên và Môi tr ờng tỉnh iền Giang, sổ mục ê đất đai đ ợc phê duyệt ngày 25/01/2008, thì tên ng ời sử dụng, quản l đối với thửa đất 322, diện tích 2.037m2 là của hộ ông Nguyễn Văn . Nh vậy có cơ sở xác định, quá trình sử dụng hộ ông Nguyễn Văn đã đăng
ê hai 02 thửa đất tranh chấp từ ngày 25/01/2008 là thửa 322, diện tích 2.037m2. Sau đó, Ủy ban nhân dân huyện C cấp đổi giấy mới cho ông Nguyễn Văn , diện tích trên đ ợc tách làm 02 thửa gồm: thửa số 98, tờ bản đồ số 4, diện tích 1.132,1m2 cấp đổi ngày 27/10/2014; thửa số 94, tờ bản đồ số 4, diện tích 465m2 cấp đổi ngày 19/11/2014. Đối với ông S2, bà M chỉ ê hai thửa đất 320, diện tích 4.038m2 và đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hoàn toàn hông liên quan gì đến thửa đất tranh chấp. Không có chứng cứ, tài liệu gì chứng minh việc bà M hoặc ông S2 đăng , ê hai thửa đất tranh chấp số 94 và 98.
ại phiên t a ông Phan Văn S cũng xác định là thửa đất ông đang cất nhà ở là do cha ông là ông M2 cho và ông Nguyễn Văn hiện đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì ch a có điều iện nên ch a sang tên chuyển quyền sử dụng đất.
Với nội dung vụ án nh trên cho thấy tr ớc đây ông M2 đã phân chia đất cho những ng ời con, phần đất tranh chấp hông liên quan đến quyền sử dụng hay phân định cho ông S2, bà M. r ớc đây, bà M chỉ sử dụng nhờ đ ờng n ớc và lối đi qua phần đất trên. Do vậy hông thể chấp nhận yêu cầu háng cáo của bà M.
Xét đề nghị của đại diện Viện iểm sát nhân dân tỉnh iền giang là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, phù hợp với pháp luật nên đ ợc chấp nhận.
Về án phí phúc thẩm: Do háng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn hị M hông đ ợc chấp nhận, nên bà M phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ hoản 1 Điều 308; hoản 1 Điều 227, hoản 1 Điều 228, Điều 271, 272, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 164, Điều 166 Bộ luật dân sự;
Căn cứ Điều 166 Luật đất đai;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UB VQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí oà án.
Không chấp nhận yêu cầu háng cáo của bà Nguyễn hị M.
Giữ nguyên bản án dân s sơ thẩm số: 212/2019/DS-S , ngày 30/10/2019 của
a án nhân dân huyện C, tỉnh iền Giang.
Xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu hởi iện của bà Nguyễn hị M về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn , chị Nguyễn hị Q và ông Phan Văn S di dời nhà đi nơi hác trả lại 02 thửa đất số 98, tờ bản đồ 04, diện tích 1.132,1m2 (diện tích theo đo đạc thực tế ngày 27/6/2019 của Công ty NHH đo đạc Đông Hải 1.090,7m2) do UBND huyện C cấp ngày 27/10/2014 và thửa số 94, tờ bản đồ số 04, diện tích 465m2 (diện tích theo đo đạc thực tế ngày 27/6/2019 của Công ty NHH đo đạc Đông Hải 513,4m2) do UBND huyện C cấp giấy chứng nhận ngày 19/11/2014 cho ông Nguyễn Văn đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
2. Về án phí:
2.1. Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn hị M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, đ ợc hấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 09802 ngày 11/02/2019 của Chi cục hi hành án dân sự huyện C, tỉnh iền Giang, nên xem nh bà M đã nộp xong án phí.
2.2. Về án phí phúc thẩm: Bà Nguyễn hị M phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng, đ ợc hấu trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm mà bà M đã nộp theo biên lai số 0002572 ngày 08/11/2019 của Chi cục hi hành án dân sự huyện C, tỉnh iền Giang, nên xem nh nộp xong án phí phúc thẩm.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
4. r ờng hợp bản án, quyết định đ ợc thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ng ời đ ợc thi hành án dân sự, ng ời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị c ỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án đ ợc thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án tuyên vào lúc 14 giờ 35 phút, ngày 30/6/2020 có mặt bà M, chị Q, ông S; Các đ ơng sự c n lại vắng mặt./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Tiền Giang; - TAND huyện C; - Chi cục THADS huyện C; - Các đ ơng sự; - L u: V , hồ sơ vụ án; DSPT-2020-H | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Trung Hiếu |