vanban.org

Bản án 203/2019/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 26/12/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc Th 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 13/9/2019.

Tịch thu tiêu hủy số ma túy trong 01 gói được niêm phong bên ngoài có ghi ký hiệu 1751/19 chữ ký ghi tên Nguyễn Phúc Th, hình dấu Công an Phường 9, Quận 8 và chữ ký giám định viên Võ Anh T. Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Nokia số Imei: 357338088249316 gắn sim số 0932.883.608 (không kiểm t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Phuc Th - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc Th 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 13/9/2019.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 203/2019/HS-ST.
Ngày 26 - 12 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thanh Vân

Bà Nguyễn Thị Năm

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Quốc Thái – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Khá – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 222/2019/TLST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 240/2019/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2019, đối với bị cáo:

Nguyễn Phúc Th; sinh năm 1975, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 5C/26 N, Phường 9, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn: 7/12); dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T (chết) và bà Nguyễn Thị R; chung sống như vợ chồng với Lê Thị Tuyết M và có 01 con sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/9/2019 đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ, ngày 13/9/2019, tại trước số 1P H, Phường 9, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, Tổ tuần tra 363 Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện Nguyễn Minh L điều khiển xe mô tô biển số 59E1-977.51 chở Nguyễn Phúc Th và Nguyễn Huỳnh Yến D, nghi vấn cả ba có liên quan đến ma túy nên Công an yêu cầu dừng xe kiểm tra. Lúc này, Nguyễn Phúc Th (đang ngồi lên gác baga phía trước của xe) xuống xe và ném từ tay phải xuống đất ngay chỗ Th đứng 01 gói nylon, bên trong có 05 gói nylon chứa tinh thể không màu và 01 gói giấy bạc chứa chất bột màu trắng (Th khai tinh thể không màu và chất bột màu trắng là ma túy mua về để sử dụng). Công an thu giữ ma túy và tạm giữ của Nguyễn Phúc Th 01 điện thoại di động hiệu Nokia; tạm giữ của Nguyễn Minh L một xe mô tô biển số 59E1-977.51. Vụ việc được đưa về trụ sở Công an Phường 9, Quận 8 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, sau đó chuyển đến Cơ quan điều tra Công an Quận 8 điều tra, làm rõ.

Tại Kết luận giám định số 1751/KLGĐ-H ngày 20/9/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 01 gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Phúc Th và hình dấu Công an Phường 9, Quận 8, bên trong có 01 gói nylon chứa:

- Tinh thể không màu trong 05 gói nylon là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,0152g (một phẩy không một năm hai gam), loại Methamphetamine.

- Bột màu trắng trong 01 gói giấy bạc là ma túy ở thể rắn, có khối lượng là 0,2184g (không phẩy hai một tám bốn gam), loại Heroine.

Quá trình điều tra, Nguyễn Phúc Th khai nhận: Bản thân bị cáo nghiện ma túy nên khoảng 01 giờ, ngày 13/9/2019, bị cáo thuê xe honda ôm đến hẻm 277 B, Phường 14, Quận 8 để gặp và mua của 01 người phụ nữ (không rõ lai lịch) 01 gói ma túy tổng hợp với giá 400.000 đồng và 01 gói heroine với giá 100.000 đồng. Người phụ nữ đồng ý và đưa cho bị cáo 05 gói nylon chứa ma túy tổng hợp, 01 gói giấy bạc chứa heroine và nhận tiền. Có ma túy, bị cáo bỏ vào túi quần, đi bộ về đến khu vực chợ X, Phường 11, Quận 8 thì gặp Nguyễn Minh L (là bạn cùng xóm với bị cáo) đang điều khiển xe mô tô biển số 59E1-977.51 chở bạn gái tên Nguyễn Huỳnh Yến D. Bị cáo nhờ L chở về nhà, L đồng ý. Bị cáo ngồi trước, Nguyễn Huỳnh Yến D ngồi sau, khi L điều khiển xe đến trước số nhà 1P H, Phường 9, Quận 8 thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang như trên. Nguyễn L và Nguyễn Huỳnh Yến D khai không biết Th cất giữ ma túy trong người khi đi nhờ xe.

Vật chứng trong vụ án:

- 01 gói được niêm phong bên ngoài có ghi ký hiệu 1751/19 chữ ký ghi tên Nguyễn Phúc Th, hình dấu Công an Phường 9, Quận 8 và chữ ký giám định viên Võ Anh T.

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia số Imei: 357338088249316 gắn sim số 0932.883.608 (không kiểm tra được tình trạng máy móc điện tử bên trong).

Tại bản Cáo trạng số 01/CT-VKS ngày 05/12/2019, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Phúc Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Nguyễn Phúc Th khai nhận hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, xác định vào lúc 02 giờ, ngày 13/9/2019, tại trước số 1P H, Phường 9, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Nguyễn Phúc Th có hành vi cất giữ trái phép ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,0152 gam, loại Methamphetamine và 0,2184 gam loại Heroine, mục đích sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Phúc Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 01 năm 02 tháng tù đến 01 năm 8 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng vụ án, đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 8, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vào lúc 02 giờ ngày 13/9/2019, tại trước số 1P H, Phường 9, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Nguyễn Phúc Th có hành vi cất giữ trái phép ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,0152 gam, loại Methamphetamine và 0,2184 gam loại Heroine, mục đích sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang. Số ma túy bị cáo tàng trữ gồm 02 chất ma túy loại Methamphetamine và Heroine và khối lượng mỗi chất ma túy từ 0,1 gam đến dưới 05 gam. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Phúc Th đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập, điều kiện kinh tế còn khó khăn, hành vi không nhằm mục đích thu lợi nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án, quá trình điều tra thu giữ số ma túy trong 01 gói niêm phong có ghi ký hiệu 1751/19, xét đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia tạm giữ của bị cáo, xét không liên quan đến hành vi phạm tội nên căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo.

Đối với xe mô tô biển số 59E1-977.51 tạm giữ của Nguyễn Minh L tại thời điểm bắt quả tang, qua xác minh do ông Đinh Quang Th đứng tên đăng ký và ông Th đã bán xe cho ông Võ Chí Th nhưng chỉ làm giấy ủy quyền. Sau đó, ông Th bán lại cho bà Nguyễn Thị X (mẹ của L) cũng không làm hợp đồng mua bán mà chỉ lập giấy ủy quyền cho bà X. Bà X giao xe trên cho L sử dụng, ngày 13/9/2019, L chở bị cáo Th nhưng không biết bị cáo cất giấu ma túy. Do đó, cơ quan điều tra ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả xe cho Nguyễn Minh L là phù hợp quy định pháp luật.

Đối với người phụ nữ bán ma túy cho bị cáo, do không xác định được lai lịch, quá trình điều tra không đưa vào tham gia tố tụng nên Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét trong vụ án này.

Nguyễn Minh L và Nguyễn Huỳnh Yến D khi cho Th đi nhờ xe, không biết và không liên quan đến số ma túy Th cất giữ trong người nên cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp quy định pháp luật.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc Th 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 13/9/2019.

- Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy số ma túy trong 01 gói được niêm phong bên ngoài có ghi ký hiệu 1751/19 chữ ký ghi tên Nguyễn Phúc Th, hình dấu Công an Phường 9, Quận 8 và chữ ký giám định viên Võ Anh T.

Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Nokia số Imei: 357338088249316 gắn sim số 0932.883.608 (không kiểm tra được tình trạng máy móc điện tử bên trong).

(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 312/PNK ngày 29/11/2019).

- Căn cứ vào Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Nguyễn Phúc Th nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ