vanban.org

Bản án 203/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 26/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuy n bố bị cáo Châu Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy”.

Xử phạt bị cáo Châu Hoàng T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/5/2019. Tịch thu ti u hủy: 01 gói ni m phong ghi vụ 1156/19 có chữ ký của Châu Hoàng T (người bị bắt), cán bộ điều tra Vũ Sơn Tùng và giám định vi n Trần Đình Hải b n trong là ma túy còn lại sau giám định, 01 cái… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ tái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuy n bố bị cáo Châu Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
TH NH PH H CH M NH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 203/2019/HS-ST
Ngày: 26/11/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Phương Nam

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà L Thị Mộng Nghi

Ông Dương Văn Quí

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hải - Kiểm sát vi n.

Ngày 26/11/2019 tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 200/2019/HSST ngày 31/10/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 229/2019/QĐXXST-HS ngày 12/11/2019 đối với bị cáo:

Châu Hoàng T - sinh năm: 1990 tại: tỉnh Quảng Nam; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn X, xã H, huyện K, tỉnh Đ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ h c v n: 06/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông Châu Minh T’ và bà Trần Thị C; Bị cáo không có vợ con; Tiền án: Ngày 26/01/2018, bị Tòa án nhân dân Thành phố Bi n Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (ch p hành xong ngày 08/3/2018); tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt ngày 23/5/2019; Bị cáo có mặt tại phi n tòa.

Những người tham gia tố tụng khác: Không có.

NỘ DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phi n tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện ma túy n n Châu Hoàng T mua ma túy về để sử dụng. Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 23/5/2019, T điều khiển xe máy biển số 62N1-282.91 đến khu vực Cầu Xáng, thuộc xã Bình Mỹ, huyện Củ Chi mua của một đối tượng (chưa xác định lai lịch) 16 tép ma túy loại Heroin (mỗi tép một đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu) với số tiền 1.550.000đồng, và 01 gói ma túy đá giá 200.000đồng. T c t gi u số ma túy vừa mua vào bóp da để trong túi quần b n trái đang mặc và điều khiển xe máy đến đường hẻm vắng người ở khu vực Trung Mỹ Tây, Quận 12 sử dụng 03 tép heroin. Đến khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, T đang điều khiển xe máy đến trước nhà số 46/1F, p Đông Lân, xã Bà điểm, huyện Hóc Môn thì bị Công an xã Bà Điểm phát hiện bắt quả tang đang tàng trữ trái phép ch t ma túy n n lập hồ sơ xử lý.

Bản kết luận giám định số 1156/KLGĐ-H ngày 03/6/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Một gói ni m phong b n ngoài có d u vân tay màu đỏ, chữ ký ghi tên Châu Hoàng T và hình d u công an xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, b n trong có:

- Bột màu trắng trong 13 đoạn ống nhựa là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4312g (không phẩy bốn ba một hai gam), loại Heroin.

- Tinh thể không màu trong 01 gói nylon là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1517 (không phẩy một năm một bảy gam), loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan điều tra, Châu Hoàng T khai nhận hành vi phạm tội như đã n u tr n.

Vật chứng:

- Một gói ma túy đã ni m phong ghi số vụ 1156/19;

- 01 cái ví da màu đen;

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung J4 số imei 352987107429328;

- 01 xe máy biển số 62N1-282.91, số khung RLCUG0610FY019041, số máy G3D4E018995, qua xác minh xe do anh Huỳnh Hữu C đứng t n chủ sở hữu, anh Chơn đã bán xe cho người khác nhưng không rõ h t n và địa chỉ người mua. Châu Hoàng T khai mua xe của một đối tượng nam ở Bến xe An Sương để làm phương tiện đi lại, Cơ quan điều tra đã đăng báo truy tìm chủ sở hữu. Đến nay, chưa có người đến li n hệ làm việc li n quan đến chiếc xe máy nói tr n.

Tại bản Cáo trạng số 192/CT-VKS-HS ngày 29/10/2019, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn để xét xử bị cáo Châu Hoàng T về tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây g i tắt là Bộ luật hình sự).

Tại phi n tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn sau khi n u lại nội dung vụ án, phân tích tính ch t, mức độ hành vi phạm tội và hậu quả do hành vi của bị cáo đối với xã hội đồng thời n u l n tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Châu Hoàng T từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù. Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu ti u hủy 01 gói ma túy đã ni m phong ghi số vụ 1156/19, 01 cái ví da màu đen, trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Samsung J4 số imei 352987107429328, tiếp tục đăng báo truy tìm chủ sở hữu và xử lý theo quy định đối với 01 xe máy biển số 62N1-282.91, số khung RLCUG0610FY019041, số máy G3D4E018995.

Tại phi n tòa, bị cáo thừa nhận hành vi như luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tr n cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phi n tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Người bị buộc tội và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Lời khai của bị cáo Châu Hoàng T phù hợp với bi n bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, cùng các tài liệu, chứng cứ khác do cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ của vụ án. Vì vậy, đủ cơ sở kết luận vào ngày 23/5/2019, Châu Hoàng T đang c t giữ ma túy để sử dụng thì bị công an bắt giữ cùng tang vật. Căn cứ kết luận giám định số 1156/KLGĐ-H ngày 03/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hồ Chí Minh có đủ cơ sở xác định số ma túy thu giữ của Châu Hoàng T gồm có: bột màu trắng là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4312g (không phẩy bốn ba một hai gam), loại Heroin; tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1517 (không phẩy một năm một bảy gam), loại Methamphetamine.

Hành vi c t giữ ma túy để sử dụng của Châu Hoàng T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép ch t ma tuý” được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố để xét xử bị cáo theo điều luật đã viện dẫn tr n là đúng người, đúng tội, n n buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo luật định.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước đối với các ch t ma tuý, gây ảnh hưởng x u đến trật tự, trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép ch t ma túy là nguy hiểm cho bản thân và xã hội nhưng vẫn cố ý phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận định cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội và cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục đối với bị cáo cũng như phòng ngừa chung cho xã hội. Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử có xem xét:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án (ngày 26/01/2018, bị Tòa án nhân dân Thành phố Bi n Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ch p hành xong ngày 08/3/2018), chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là thuộc trường hợp tái phạm n n phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do đó Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử nhận định bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có điều kiện kinh tế vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 gói ni m phong ghi vụ 1156/19 có chữ ký của Châu Hoàng T (người bị bắt), cán bộ điều tra Vũ Sơn Tùng và giám định vi n Trần Đình Hải b n trong là ma túy còn lại sau giám định, 01 cái ví da màu đen: Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định tịch thu ti u hủy.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung model J4 màu đồng – đen, có số imei 352987107429328 là tài sản cá nhân của bị cáo n n Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định trả lại cho bị cáo.

Đối với 01 xe máy biển số 62N1-282.91, số khung RLCUG0610FY019041, số máy G3D4E018995: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn đã đăng báo (ngày 28/8/2019) truy tìm chủ sở hữu nhưng hiện chưa xác định được chủ sở hữu. Hội đồng xét xử quyết định giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn tiếp tục thông báo tr n các phương tiện thông tin đại chúng để truy tìm chủ sở hữu. Trong thời hạn 09 tháng kể từ ngày thông báo, nếu có người xu t trình đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh là chủ sở hữu hợp pháp thì trả lại xe cho h . Sau 09 tháng kể từ ngày thông báo mà không xác định được ai là chủ sở hữu thì tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Tuy n bố bị cáo Châu Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy”.

Xử phạt bị cáo Châu Hoàng T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/5/2019.

2. Căn cứ điểm a, điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu ti u hủy: 01 gói ni m phong ghi vụ 1156/19 có chữ ký của Châu Hoàng T (người bị bắt), cán bộ điều tra Vũ Sơn Tùng và giám định vi n Trần Đình Hải b n trong là ma túy còn lại sau giám định, 01 cái ví da màu đen.

Trả lại cho bị cáo Châu Hoàng T 01 điện thoại di động hiệu Samsung model J4 màu đồng – đen, có số imei 352987107429328 (đã qua sử dụng).

Giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn thông báo tr n các phương tiện thông tin đại chúng để truy tìm chủ sở hữu đối với 01 xe gắn máy biển số 62N1-282.91, số khung RLCUG0610FY019041, số máy G3D4E018995. Trong thời hạn 09 tháng kể từ ngày thông báo, nếu có người xu t trình đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh là chủ sở hữu hợp pháp thì trả lại xe cho h . Sau 09 tháng kể từ ngày thông báo mà không xác định được ai là chủ sở hữu thì tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

(Vật chứng được ghi theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/11/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Hóc Môn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn).

3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuy n án.

5. Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014);

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền y u cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ