vanban.org

Bản án 203/2018/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Long Biên, TP. Hà Nội Tuyên án 17/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Minh T 24 (Hai mƣơi tƣ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 17 - 4 -2018. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015 và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TTMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LONG BIÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 203/2018/HS-ST
Ngày 17 - 7 -2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, TP.HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Mai Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông NguyễnĐức T

Ông Nguyễn Văn Cương

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Hà – Thư ký Toà án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Hạnh- Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 216/2018/TLST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 221 /2018/ QĐXXST-HS ngày 04 / 7/2018 đối với bị cáo:

NGUYỄN MINH T – sinh năm: 1983 tại Hà Nội; HKTT: Tổ B phường S, Long Biên, Hà Nội; Chỗ ở: K, Ga G, ngõ G phố N, phường G, Long Biên, Hà Nội; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Không; con ông Nguyễn Minh Đ và bà Cao Thị N; TATS: Theo danh chỉ bản số 287 ngày 19 - 4 -2018 của Công an quận Long Biên lập và lý lịch địa phương cung cấp thì bị cáo có 01 tiền sự: năm 2004, PC14-Công an thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Bị cáo bị bắt ngày 17- 4 -2018. (Có mặt). Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1.Hoàng M - SN: 1984. HKTT: Tổ B, P.Đ, Hoàng Mai, Hà Nội. (vắng mặt)

2.Nguyễn Thị Hương S ( tức Lê Thị Mai H, N)- SN: 1989.

HKTT: Thôn A, xã S, Văn Chấn, Yên Bái. Hiện đang cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2, Hà Nội (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 16h30’ ngày 17/04/2018, Tổ công tác Đội CSĐTTP về ma túy – Công An quận Long Biên phối hợp cùng Công an phường Gia Thụy, Long Biên, Hà Nội tiến hành kiểm tra hành chính kiốt số 02, Ga Gia Lâm, ngõ 481 phố Ngọc Lâm, phường Gia Thụy, Long Biên, Hà Nội. Tại thời điểm kiểm tra có 04 đối tượng trên gác xép của kiốt gồm:

1.Hoàng M - SN: 1984.

2.Nguyễn Thị Hương S ( tức Lê Thị Mai H, N)- SN: 1989.

3.Nguyễn Mai Anh-SN: 1989.

4.Nguyễn Duy T - SN: 1981.

Khi tổ công tác đang tiến hành kiểm tra thì có 01 đối tượng nam giới đến Kiốt, tự khai tên Nguyễn Minh T , Kiốt trên của Nguyễn Minh T thuê để ở.

Qua kiểm tra, tổ công tác phát hiện trên mặt tấm đệm của gác xép có 01 nắp bật lửa kim loại màu bạc, bên trong nắp bật lửa có 01 túi nilong chứa tinh thể màu trắng. Trên mặt kệ gỗ của gác xép có 01 bộ tẩu hút tự tạo. Tại chỗ, Minh T khai nhận túi nilong chứa tinh thể màu trắng là ma túy đá và 01 bộ tẩu hút tự tạo là dụng cụ sử dụng ma túy của T . Tổ công tác đã thu giữ niêm phong tang vật sau đó các đưa đối tượng về trụ sở để xác minh làm rõ ( BL 29).

Tại Kết luận giám định số 3718/KLGĐ-PC54 ngày 26/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận:

- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,889 gam.

- 01 bộ tẩu hút tự tạo có dính ma túy loại Methamphetamine ( BL 38).

Quá trình điều tra xác định: Bản thân Nguyễn Minh T là người nghiện ma túy đá nên ngày 15/4/2018, T đến khu vực chợ Kim Liên, Đống Đa, Hà Nội mua 01 túi ma túy đá của 01 người đàn ông không quen biết với giá 800.000 đồng. Sau đó T mang túi ma túy trên về cất tại kiốt số 02, Ga Gia Lâm, ngõ 481 phố Ngọc Lâm, phường Gia Thụy, Long Biên, Hà Nội để sử dụng dần. Sau khi lấy một phần ma túy ra sử dụng, T giấu số ma túy còn lại trong nắp bật lửa và để trên mặt đệm cùng tẩu tự tạo trên mặt kệ gỗ của gác xép. Ngày 16/4/2018 Nguyễn Thị Hương S ( tên gọi khác: Lê Thị Mai Hương; Ngọc) đến ki ốt của T chơi và ở lại đây. Khoảng 11h ngày 17/4/2018, bạn của T là Nguyễn Mai Anh và bạn trai Mai Anh tên là Hiệp đến chơi, các đối tượng cùng nhau sử dụng ma túy đá ( Mai Anh không sử dụng). Sau đó Hiệp đi về thì có thêm Nguyễn Duy T và Hoàng M đến chơi. Một lúc sau Nguyễn Minh T đi ra ngoài có việc. Lúc này Hoàng M thấy có bộ tẩu hút tự tạo bên trong có sẵn ma túy đá nên cầm lên để sử dụng. Sau đó M ngồi chơi cùng với S , Mai Anh, Duy T thì lực lượng công an đến kiểm tra hành chính. Khi Cơ quan công an đang kiểm tra thì Nguyễn Minh T về, Cơ quan công an đã phát hiện thu giữ tang vật như nội dung trên.

Bản cáo trạng số: 214/CT-VKS ngày 22 - 6 -2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố Nguyễn Minh T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015.

Tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của người làm chứng phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra thấy rằng: Hành vi của bị cáo Nguyễn Minh T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hành vi của bị cáo vi phạm vào điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS 2015.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều38; Điều 47 của BLHS 2015 và Điều 106 của BLTTHS.

Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo T mức án từ 24 đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,889 gam ma túy loại Methamphetamine, 01 bộ tẩu hút tự tạo, 01 nắp bật lửa kim loại màu bạc.

Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

- Về tội danh:

Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật-tài liệu, bản kết luận giám định, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dụng bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16h30 phút ngày 17/04/2018, tại kiốt số 02, Ga Gia Lâm, ngõ 481 phố Ngọc Lâm, phường Gia Thụy, Long Biên, Hà Nội, bị cáo Nguyễn Minh T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,889 gam ma túy loại Methamphetamine mục đích để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác Đội CSĐTTP về ma túy – Công An quận Long Biên phối hợp cùng Công an phường Gia Thụy, Long Biên, Hà Nội phát hiện bắt giữ cùng tang vật.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Minh T đã cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã cố ý xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy được Bộ luật hình sự bảo vệ. Vì vậy, cần phải nghiêm trị đối với bị cáo.

- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng TNHS:

Nhân thân của bị cáo có 01 tiền sự: năm 2004, PC14-Công an thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Theo luật định tiền sự trên của bị cáo đã được xóa. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS.

Trong khi Đảng và Nhà nước ta đang kiên quyết đấu tranh để loại trừ tệ nạn ma túy, mại dâm ra khỏi đời sống xã hội thì hành vi phạm tội của bị cáo xét về tính chất, mức độ thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức án tù trong khung hình phạt nhằm cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.

- Về hình phạt bổ sung:

Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành phạt bổ sung bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ.

- Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu, tiêu hủy 0,889 gam ma túy loại Methamphetamine là vật nhà nước cấm lưu hành, 01 bộ tẩu hút tự tạo, 01 nắp bật lửa kim loại màu bạc là công cụ bị cáo sử dụng ma túy.

Đại diện VKSND quận Long Biên đề nghị về hình phạt chính, hình phạt bổ sung, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS và xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp với nhận định của HĐXX.

- Về vấn đề khác:

Các đối tượng Nguyễn Thị Hương S , Nguyễn Mai Anh, Hoàng M , Nguyễn Duy T khai không biết Nguyễn Minh T tàng trữ ma túy, chỉ đến khi cơ quan công an kiểm tra các đối tượng trên mới biết nên Cơ quan CSĐT không có căn cứ để xử lý về hình sự đối với S , Mai Anh, M , Duy T . Xét nghiệm nước tiểu của Nguyễn Mai Anh, Nguyễn Duy T âm tính với ma túy; của Nguyễn Thị Hương S , Hoàng M dương tính với ma túy nên Cơ quan CSĐT đã thông báo cho chính quyền địa phương nơi Nguyễn Thị Hương S cư trú để lập hồ sơ đưa đi cai nghiện đối với S , ra quyết định xử phạt hành chính đối với Hoàng M về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với đối tượng bán ma tuý cho Nguyễn Minh T tại khu vực chợ Kim Liên, Đống Đa, Hà Nội do T khai không biết tên tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra chưa có điều kiện làm rõ để xử lý, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là có căn cứ.

- Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015:

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Minh T 24 (Hai mƣơi tƣ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 17 - 4 -2018.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015 và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 0,889 gam ma túy loại Methamphetamine, 01 bộ tẩu hút tự tạo (Hiện đang lưu giữ tại Kho tang vật Công an quận Long Biên theo Phiếu nhập vật chứng ngày 12 - 6 - 2018).

- Tịch thu, tiêu hủy 01 nắp bật lửa kim loại màu bạc. (Hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/ 6/2018)

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Án xử công khai sơ thẩm.

Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trực tiếp về những vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án./.

Cỡ chữ