- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động — án lao động — "Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lại Thế H. Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Dịch vụ CL phải trả cho ông Lại Thế H các khoản tiền sau:
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 2022/2024/LĐ-ST Ngày: 23/5/2024 V/v tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Thiên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Văn Lợi;
2. Bà Nguyễn Hương Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Trí – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thảo – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 167/2023/TLST-LĐ ngày 07/11/2023 về việc “Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1699/2024/QĐXXST-LĐ ngày 01/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 2434/2024/QĐST-LĐ ngày 24/4/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Lại Thế H, sinh năm 1990
Địa chỉ: 500/25A Tổ B, khu phố 3, phường H, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh - (có mặt).
2. Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Dịch vụ CL
Trụ sở: 12 đường Đ, phương B, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Cao Thanh S; Địa chỉ thường trú: Xã T, huyện M, tỉnh Quảng Bình - (vắng mặt).
(theo văn bản Ủy quyền ký ngày 20/11/2023 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Dịch vụ CL)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
(1) Nội dung nguyên đơn khởi kiện: Ông Lại Thế H ký hợp đồng lao động với Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Dịch vụ CL (sau đây gọi tắt là công ty) hợp đồng lao động xác định thời hạn 12 tháng (từ ngày 01/4/2023 đến ngày 31/3/2024), với chuyên môn công việc và vị trí làm việc là Quản lý kinh doanh khu vực Thành phố Hồ Chí Minh (viết tắt là ASM HCM). Mức lương thỏa thuận ghi trong hợp đồng lao động là 6.000.000 đồng/tháng, các khoản hỗ trợ khác gồm tiền nhà trọ, xăng xe, điện thoại, tiền cơm, trách nhiệm công việc, doanh số … là 19.000.000 đồng. Nhưng phải theo chính sách chức vụ của công ty, lương theo chính sách tuyển dụng nhân sự cụ thể: Vị trí quản lý khu vực ASM thì lương căn bản là 21.000.000 đồng/tháng, phụ cấp công việc 4.000.000 đồng/tháng, lương kinh doanh (hưởng theo hoàn thành chỉ tiêu trong tháng, hoàn thành KPI). Hình thức trả lương vào ngày 10 hàng tháng, trả bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản. Sau khi trừ thuế thu nhập cá nhân và tiền đóng bảo hiểm theo quy định, thì mức lương thực lãnh của ông H là 22.500.000 đồng/tháng. Tuy nhiên, công ty liên tục trả chậm lương từ tháng 4 đến tháng 5 năm 2023, nợ lương tháng 6, tháng 7 và 13 ngày làm việc của tháng 8 năm 2023 với tiền lương còn nợ là 56.250.000 đồng. Ngày 15/8/2023, bằng thông báo số 34-2023/TB-CL, Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Dịch vụ CL đã đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật với ông Lại Thế H, mà không báo trước theo quy định của pháp luật lao động. Sau đó ông H đã có đơn kiếu nại tại Phòng lao động thương binh và Xã hội thành phố Thủ Đức, việc hòa giải giữa hai bên không thành, nên ông H đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Dịch vụ CL phải trả tiền lương còn nợ 56.250.000 đồng của lương tháng 6, tháng 7 và 13 ngày làm việc của tháng 8 năm 2023 và bồi thường theo quy định của pháp luật gồm có:
+ Bồi thường cho ông H những ngày không được làm việc theo hợp đồng lao động đã ký cho đến ngày kết thúc hợp đồng (từ ngày 16/8/2023 đến ngày 31/3/2024) là 7,5 tháng x 22.500.000 đồng = 166.875.000 đồng;
+ Bồi thường 02 tháng tiền lương do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật 45.000.000 đồng.
+ Bồi thường 30 ngày thời gian vi phạm báo trước do đơn phương chấm dứt hợp đồng với số tiền 11.538.461 đồng;
+ Đóng tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp đến ngày kết thúc hợp đồng lao động là ngày 31/3/2024, theo đúng quy định của pháp luật.
(2) Tại bản tự khai ngày 30/11/2023, người đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Dịch vụ CL cho rằng: Ngày 01/04/2023, công ty trác nhiệm hữu hạn Thương mại và dịch vụ Chi Lăng và ông Lại Thế H có kí hợp đồng lao động số 06-2023/HĐLĐ-CL, xác định thời hạn 12 tháng. Nhiệm vụ của ông Lại Thế H là quản lý và xây dựng kế hoạch phát triển thị trường, phát triển hệ thống nhà phân phối theo kế hạch và định hướng của công ty tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh. Hàng tháng, ông Lại Thế H phải đi làm đủ 26 ngày và bán được số lượng hàng hóa cho các nhà phân phối đạt chỉ tiêu do công ty đặt ra và chỉ tiêu ông H cam kết với công ty. Trong các tháng 6 và tháng 7 năm 2023, chỉ tiêu doanh số mà ông H phải đạt được số lượng hàng hóa bán cho các nhà phân phối tương đương số tiền là 1.920.000.000 đồng (một tỷ chín trăm hai mươi triệu đồng) theo quy định, ông H phải đạt được doanh số như trên mới nhận được mức lương thưởng tổng cộng là 25.000.000 đồng. Tuy nhiên, theo báo cáo doanh số tháng 6/2023, ông Lại Thế H có doanh số thực hiện chỉ đạt là 669.138.000 đồng, tương đương 34,9% doanh số. Theo báo cáo doanh số tháng 7/2023 ông Lại Thế H có doanh số thực hiện chỉ đạt 604.778.400 đồng, tương đương 31,5% doanh số. Căn cứ theo quy định lương thưởng của công ty, đối với chức danh quản lý khu vực khi có doanh số thực hiện đạt dưới 50% sẽ được tính lương theo phần trăm doanh số đạt được trên tổng lương, thưởng và các khoản hỗ trợ khác (25.000.000 đồng x % doanh số thực hiện).
Từ những điều nêu trên, sau khi trừ các khoản tiền bảo hiểm 630.000 đồng và số tiền tạm chi trước của tháng 5 là 1.223.000 đồng, công ty đã tính lương, thưởng, và các khoản hỗ trợ khác tháng 6 của ông H là 6.872.000 đồng. Lương, thưởng và các khoản hỗ trợ khác tính theo 24/26 ngày công tháng 7 sau khi trừ tiền đóng bảo hiểm của ông H là 6.639.231 đồng, phía công ty sẵn sàng chỉ trả số tiền lương, thưởng và các khoản hỗ trợ tổng cộng 13.511.231 đồng cho ông Lại Thế H. Tuy nhiên, ông H không đồng ý với số tiền mình nhận được và từ chối nhận số tiền nêu trên vì vậy công ty chưa thể chi trả cho ông H. Đến cuối tháng 7/2023, Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Dịch vụ CL phát hiện các sai phạm trong quá trình làm việc của ông Lại Thế H. Ông H tự ý đưa hàng hóa tới các khu vực khác không do mình quản lý tiêu thụ, không hoàn thành nhiệm vụ phát triển thị trường, xây dựng thương hiệu sản phẩm hàng hóa của công ty tại khu vực phân công (TP.Hồ Chí Minh), thông đồng, kí xác nhận doanh số không đúng sự thật cho các cộng tác viên bán hàng tại thành phố Hồ Chí Minh. Mặc dù, các cộng tác viên này không hề đi làm và chào bán sản phẩm, hàng hóa của công ty, để công ty Chi Lăng phải chi trả thêm tiền hoa hồng cao hơn so với thực tế, nhằm mục đích chiếm đoạt tiền, gây thiệt hại lớn cho công ty về cả mặt kinh tế và phát triển thị trường, phát triển thương hiệu mà hiện tại vẫn chưa khắc phục được. Phía công ty đang tiến hành làm việc để làm rõ sai phạm của ông H, tuy nhiên ông H đã tự ý nghỉ việc từ ngày 01/08/2023 đến nay. Ngày 15/08/2023, công ty ban hành thông báo dừng cộng tác để tránh việc ông H lợi dụng danh nghĩa công ty tiếp tục lấy hàng hóa từ các nhà phân phối để đi tiêu thụ sai quy định để trục lợi. Công ty TNHH thương mại và dịch vụ Chi Lăng đang mời ông H để giải quyết việc vi phạm hợp đồng. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại ông Lại Thế H vẫn chưa đến để giải quyết, vì vậy công ty vẫn chưa ra quyết định cho thôi việc, quyết định chấm dứt hợp đồng lao động đối với ông H. Bởi các lý do trên, công ty TNHH thương mại và dịch vụ Chi Lăng không đồng ý những yêu cầu khởi kiện của ông H, yêu cầu Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Công ty TNHH thương mại và dịch vụ Chỉ Lăng chỉ đồng ý chỉ trả lương, thưởng và các khoản trợ cấp khác theo đúng quy định của công ty cho ông Lại Thế H số tiền là 13.511.231 đồng, sau khi ông H giải trình và báo cáo và khắc phục các sai phạm của mình cho công ty. Tuy nhiên, người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của bị đơn vắng mặt, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và vắng mặt phiên tòa lần thứ nhất ngày 24/4/2024, áp dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 227, Điều 233 và Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc trường hợp phải hoãn phiên tòa lần thứ nhất.
(3) Tại phiên tòa sơ thẩm lần thứ hai: Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Cao Thanh Sơn tiếp tục vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Nguyên đơn ông Lại Thế H thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện. Đề nghị Tòa án áp dụng mức lương để bồi thường thiệt hại do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là 10.000.000 đồng/tháng (bao gồm tiền lương cơ bản theo hợp đồng đã ký là 6.000.000 đồng và phụ cấp chức vụ 4.000.000 đồng). Yêu cầu Công ty Chi Lăng có nghĩa vụ đóng tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp trên mức lương cơ bản theo hợp đồng lao động đã ký là 6.000.000 đồng. Giữ nguyên yêu cầu buộc Công ty Chi Lăng trả tiền nợ lương của tháng 6, tháng 7 và 13 ngày làm việc của tháng 8 năm 2023, trên mức lương thực nhận là 22.500.000 đồng. Đến nay hợp đồng lao động đã hết, nguyên đơn không có nguyện vọng quy trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã ký.
(4) Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Tòa án đã tiến hành tố tụng từ khi thụ lý cho đến mở phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật. Đại diện hợp pháp theo ủy quyền của bị đơn đã vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hàng xét xử vắng mặt bị đơn. Về nội dung, yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp, đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên toà, Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Giữa ông Lại Thế H với Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Dịch vụ CL phát sinh tranh chấp về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 32 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, có mã số doanh nghiệp: 0317213825 do Sở kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh đăng ký lần đầu ngày 22/3/2022, đăng ký thay đổi lần thứ 05 ngày 24/11/2022, xác định Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Dịch vụ CL có trụ sở đăng ký hoạt động tại địa chỉ: 12 đường Đình Phong Phú, phường Tăng Nhơn Phú B, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Thời hiệu khởi kiện: Ngày 15/8/2023, Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Dịch vụ CL ban hành Thông báo số 34-2023/TB-CL về việc chấm đứt hợp đồng lao động với ông Lại Thế H, ngày 03/10/2023 ông Lại Thế H nộp đơn khởi kiện đến Tòa án để giải quyết tranh chấp giữa hai bên. Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 190 của Bộ luật lao động năm 2019 thời hiệu khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vẫn còn.
Nhận thấy, tại phiên tòa nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện là hoàn toàn tự nguyện, nội dung thay đổi không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu. Mức lương yêu cầu áp dụng để bồi thường thiệt hại do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là 10.000.000 đồng/tháng, trong đó bao gồm tiền lương cơ bản theo hợp đồng đã ký là 6.000.000 đồng và phụ cấp chức vụ 4.000.000 đồng theo Chính sách tuyển dụng nhân sự vị trí Quản lý khu vực của Công ty Chi Lăng. Xét thấy, mức lương nguyên đơn yêu cầu áp dụng để tính bồi thường là có căn cứ, việc thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Xét thấy, Hợp đồng lao động số 06-2023/HĐLĐ-CL giao kết ngày 01/4/2023 giữa ông Lại Thế H và Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Dịch vụ CL, có hình thức và nội dung phù hợp với các quy định tại Điều 13, Điều 14, Điều 18 và Điều 21 của Bộ luật lao động năm 2019. Việc giao kết và thực hiện hợp đồng lao động giữa ông Lại Thế H với Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Dịch vụ CL là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, Do vậy, có cơ sở xác định giữa ông Lại Thế H và Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Dịch vụ CL có xác lập quan hệ lao động, xác định người sử dụng lao động là Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Dịch vụ CL và người lao động là ông Lại Thế H. Theo quy định của Điều 23 của Bộ luật lao động năm 2019, hợp đồng lao động giao kết giữa hai bên đã phát sinh hiệu lực ràng buộc trách nhiệm pháp lý buộc các bên phải thực hiện.
Căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định về nghĩa vụ chứng minh của người sử dụng lao động, căn cứ vào sự thừa nhận, không phản đối giữa các bên đương sự và hợp đồng lao động đã phát sinh hiệu lực, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định ông Lại Thế H đã làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Dịch vụ CL theo hợp đồng lao động xác định thời hạn 12 tháng (từ ngày 01/4/2023 đến ngày 31/3/2024), với chuyên môn công việc và vị trí làm việc là Quản lý kinh doanh khu vực Thành phố Hồ Chí Minh (viết tắt là ASM HCM). Mức lương thỏa thuận ghi trong hợp đồng lao động là 6.000.000 đồng/tháng của 26 ngày làm việc, các khoản hỗ trợ khác gồm tiền nhà trọ, xăng xe, điện thoại, tiền cơm, trách nhiệm công việc, doanh số … là 19.000.000 đồng. Như vậy, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 90 của Bộ luật lao động năm 2019 xác định “tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động tả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện cộng việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác”. Do vậy, tiền lương mỗi tháng Công ty phải trả cho ông H theo thỏa thuận của hợp đồng lao động là 25.000.000 đồng (chưa trừ các khoản tiền đóng thuế thu nhập cá nhân và bảo hiểm các loại). Nguyên đơn ông Lại Thế H xác nhận số tiền lương thực lãnh hàng tháng sau khi Công ty Chi Lăng đã trừ thuế thu nhập cá nhân, tiền bảo hiểm các loại là 22.250.000 đồng, nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.
Căn cứ theo quy định tại Điều 94 Bộ luật lao động năm 2019 có quy định, người sử dụng lao động phải có trách nhiệm trả lương đầy đủ, đúng hạn cho người lao động. Thế nhưng, Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Dịch vụ CL không trả lương cho người lao động, nợ tiền lương của ông Lại Thế H lương tháng 6, tháng 7 và 13 ngày làm việc của tháng 8 năm 2023 với số tiền 56.250.000 đồng là vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của người sử dụng lao động. Do vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả 56.250.000 đồng là tiền nợ lương tháng 6, tháng 7 và 13 ngày làm việc của tháng 8 năm 2023 là có căn cư nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét thấy, ngày 15/8/2023, Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Dịch vụ CL ban hành thông báo số 34-2023/TB-CL về việc dừng công tác, ngừng công việc đối với người lao động ông Lại Thế H, mà không nêu rõ lý do vi phạm của người lao động và vi phạm thời gian báo trước theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 36 của Bộ luật lao động năm 2019. Như vậy, Công ty Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Dịch vụ CL đã đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật với ông Lại Thế H, mà không báo trước theo quy định của pháp luật lao động, làm ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động. Do vậy, Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Dịch vụ CL phải có nghĩa vụ bồi thường cho người lao động theo quy định tại Điều 41 của Bộ luật lao động năm 2019.
Xét yêu cầu khởi kiện bồi thường của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Tiền lương cho những ngày ông H không được làm việc theo hợp đồng lao động đã ký cho đến ngày kết thúc hợp đồng (từ ngày 16/8/2023 đến ngày 31/3/2024) là 7,5 tháng x 10.000.000 đồng = 75.000.000 đồng, là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 41 của Bộ luật lao động năm 2019, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận;
- Bồi thường cho ông Lại Thế H 02 tháng tiền lương vì đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, với số tiền là 20.000.000 đồng là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 41 của Bộ luật lao động năm 2019, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận;
- Bồi thường cho ông Lại Thế H 30 ngày do Công ty Chi Lăng vi phạm quy định về thời gian báo trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, với số tiền là 11.538.461 đồng là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 41 của Bộ luật lao động năm 2019, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận;
- Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Dịch vụ CL nộp đầy đủ tiền Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế và chốt sổ bảo hiểm xã hội cho ông Lại Thế H cho đến ngày kết thúc hợp đồng lao động đã ký là ngày 31/3/2024, trên mức lương cơ bản theo hợp đồng lao động là 6.000.000 đồng/tháng, là phù hợp với yêu cầu và nguyện vọng của nguyên đơn, đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 41 và Điều 168 của Bộ luật lao động năm 2019 và Điều 85, Điều 86 và Điều 89 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận, căn cứ theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, buộc bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Dịch vụ CL phải chịu án phí lao động sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 5, Điều 6, khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm đ khoản 1 Điều 40, Điều 91, Điều 92, Điều 93, Điều 147, Điều 186, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 273, Điều 280, Điều 482 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Bộ luật lao động năm 2019;
Căn cứ Điều 21, Điều 85, Điều 86 và Điều 89 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014;
Căn cứ Điều 357 và 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lại Thế H. Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Dịch vụ CL phải trả cho ông Lại Thế H các khoản tiền sau:
1.1. Tiền nợ lương của tháng 6, tháng 7 và 13 ngày làm việc của tháng 8 năm 2023 với số tiền là 56.250.000 đồng;
1.2. Tiền lương cho những ngày ông Lại Thế H không được làm việc theo hợp đồng lao động đã ký là 75.000.000 đồng;
1.3. Bồi thường 02 tháng tiền lương do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật 20.000.000 đồng;
1.4. Tiền bồi thường do vi phạm thời gian báo trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật 11.538.461 đồng.
Tổng số tiền buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Dịch vụ CL phải trả cho ông Lại Thế H là 162.788.461 đồng. Kể từ ngày ông Lại Thế H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Dịch vụ CL không trả hoặc chậm trả số tiền bồi thường nói trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm tiền lãi, theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án, cho đến khi thanh toán xong.
2. Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Dịch vụ CL thực hiện ngay việc tiếp tục đóng tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế và chốt Sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động ông Lại Thế H đến hết ngày 31/3/2024, trên mức lương 6.000.000 đồng/tháng, theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Dịch vụ CL phải nộp án phí lao động sơ thẩm 4.883.654 đồng.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - VKSND TP. Thủ Đức; - Thi hành án dân sự TP. Thủ Đức; - Các đương sự; - Lưu HS,VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký và đóng dấu) Cao Văn Thiên |