- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Vĩ Minh K phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? (Theo các Phiếu nhập kho vật chứng số 280/2023/PNK-THAHS ngày 22/11/2023, Phiếu nhập kho vật chứng số 281/2023/PNK-THAHS ngày 22/11/2023, Phiếu nhập kho vật chứng số 295/2023/PNK-THAHS ngày 22/11/2023, của Đội THAHS&HTTP, Công an Quận 1)
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 202/2023/HS-ST Ngày 28-12-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Nhật Minh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đình Phúc;
2. Bà Nguyễn Thị Hiếu
- Thư ký phiên tòa:
Tại điểm cầu trung tâm: Bà Bế Thị Phượng.
Tại điểm cầu thành phần: Ông Bùi Ngọc Khánh Hoàng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1tham gia phiên toà:
Tại điểm cầu trung tâm: Ông Phạm Minh Hiệu – Kiểm sát viên.
Tại điểm cầu thành phần: Ông Lê Hoàng Nam – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh và Nhà tạm giữ Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 222/2023/HSST ngày 14 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1584/2023/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Trương Vĩ Minh Kh, sinh ngày 19/02/2002 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 59 Lê Bình, Phường S, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 947/53 Cách Mạng Tháng Tám, Phường N, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Vĩ Minh và bà Dương Thị Bình M; Hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 09/9/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Dương Thị Bình M, sinh năm: 1970; Địa chỉ: 947/53 Cách Mạng Tháng Tám, Phường N, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do cần tiền tiêu xài nên Trương Vĩ Minh Kh nảy sinh ý định mua cần sa về bán lại cho người nghiện để hưởng lợi. Sau đó, Kh liên hệ với người đàn ông tên Hồng Chí Cam (không rõ lai lịch) qua ứng dụng Telegram đặt mua Cần sa về chia nhỏ bán lại hưởng lợi. Khoảng cuối tháng 8/2023, Kh đặt mua của Cam 200 gram cần sa với giá 7.500.000 đồng đem về nhà số 947/53 đường Cách Mạng Tháng Tám, Phường 07, quận Tân Bình để cất giấu tại phòng riêng của Kh bên phải cầu thang bộ tầng 1. Tại đây, Kh chia nhỏ Cần sa thành các gói nhỏ và bán lại cho người nghiện với giá 200.000 đồng, 500.000 đồng và 1.000.000 đồng tùy theo yêu cầu, bán hết Kh sẽ thu được 10.000.000 đồng hưởng lợi 2.500.000 đồng. Khoảng 13 giờ ngày 09/9/2023, Kh điều khiển xe mô tô biển số 59P2-640.15 đi giao ma túy cho khách, khi đến trước nhà số 80 Nguyễn Du, phường Bến Nghé, Quận 1 thì bị tổ tuần tra Công an phường Bến Nghé, Quận 1 gồm các anh Nguyễn Hoàng Anh, Nguyễn Thành Trung phát hiện Kh có biểu hiện nghi vấn về ma túy nên yêu cầu về Công an phường Bến Nghé để kiểm tra. Tại đây, có sự chứng kiến của anh Tạ Văn Thanh (bảo vệ dân phố) Kh tự lấy trong túi áo khoác phía trước Kh đang mặc ra 01 gói nylon chứa thảo mộc khô (Kh khai là Cần sa) nên tổ tuần tra giao Kh cùng vật chứng cho Công an phường Bến Nghé, Quận 1 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang rồi chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 xử lý.
Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trương Vĩ Minh Kh tại nhà số 947/53 Cách Mạng Tháng Tám, Phường N, quận Y, thu giữ:
- Tại vị trí giường ngủ cách cửa ra vào 1,3m bên phải giường ngủ có 01 hộc tủ nằm âm bên trong giường, bên trong có 03 gói giấy đựng 03 gói nylon chứa thảo mộc khô;
- Tại vị trí cách giường ngủ khoảng 45cm, góc tường bên trái có 01 hộp giấy, bên trong hộp giấy có 01 gói giấy đựng 01 gói nylon chứa thảo mộc khô; 02 gói nylon chứa thảo mộc khô.
- 01 cân điện tử, 01 cối xay, giấy quấn và một số bao nylon.
Theo kết luận số 10016/KL-KTHS ngày 18/9/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận thảo mộc khô trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Trương Vĩ Minh Kh và hình dấu Công an phường Bến Nghé, Quận 1 có khối lượng 4,9621 gam là Cần sa.
Theo kết luận số 10017/KL-KTHS ngày 18/9/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận 02 gói được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Trương Vĩ Minh Kh và hình dấu Công an Phường N, quận Y, bên trong có:
- Gói 1: Thảo mộc khô trong 03 gói nylon có tổng khối lượng 97,83 gam đều là Cần sa.
- Gói 02: Thảo mộc khô trong 01 gói nylon có khối lượng 100,34 gam là Cần sa; Thảo mộc khô trong 02 gói nylon có tổng khối lượng 101,04 gam đều là Cần sa.
* Vật chứng vụ án: 03 (ba) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Đại úy Võ La Bảo Yến, Lê Chí Thọ, ghi vụ số 10016 (1995/23) và 10017 (1996/23) bên trong chứa 304,1721 gam ma túy loại Cần sa.
Thu giữ của Trương Vĩ Minh Kh: 3.000.000 đồng (ba triệu đồng); 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, số imei: 352048880267417; 01 (một) điện thoại Redmi 10, số imei: 866876050873021; 01 (một) cối xoay; 01 (một) cuộn giấy; 01 (một) cân điện tử; 01 (một) bao nylon;
- 01 (một) xe mô tô hiệu Honda loại Janus, biển số 59P2-640.15, số khung: RLCSEC820HY036962, số máy: E3Y8E036962, qua xác minh do bà Dương Thị Bình M (mẹ ruột của Kh) đứng tên đăng ký xe. Ngày 09/9/2023, bà Minh cho Kh mượn xe mô tô trên để làm phương tiện đi học, đi làm và không biết Kh sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện phạm tội. Hiện tất cả vật chứng đang nhập kho Công an Quận 1 tạm giữ.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Trương Vĩ Minh Kh khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên, lời khai của Kh phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 thu thập được.
Tại bản cáo trạng số 01/CT-VKS-Q1 ngày 12 tháng 12 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trương Vĩ Minh Kh về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo xác định nội dung bản cáo trạng là đúng, tất cả lời khai của bị cáo trong quá trình tố tụng là tự nguyện, không bị ép cung hay dùng nhục hình. Quá trình thu giữ và mở vật chứng giám định bị cáo có chứng kiến, ký tên trong các biên bản và các bản ảnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích hành vi phạm tội, tính chất, mức độ nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện, nêu ý kiến kết luận như sau:
+ Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trương Vĩ Minh Kh về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
+ Đề nghị áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trương Vĩ Minh Kh từ 02 (hai) năm đến 02 năm 06 tháng tù, phạt bị cáo số tiền 10.000.000 đồng nộp vào Ngân sách Nhà nước. Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
Bị cáo không bào chữa, không tranh luận. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội sửa chữa sai lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời nhận tội của bị cáo Trương Vĩ Minh Kh tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu và chứng cứ khác có trong hồ sơ đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 13 giờ 00 ngày 09/9/2023, tại trước nhà số 80 đường Nguyễn Du, phường Bến Nghé, Quận 1 và tại nhà số 947/53 Cách Mạng Tháng Tám, Phường N, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh, Trương Vĩ Minh Kh đã có hành vi cất giữ 304,1721 gam ma túy loại Cần sa nhằm mục đích bán cho người nghiện để hưởng lợi. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương và tiếp tay cho những phần tử xấu duy trì tệ nạn ma túy. Tuy nhiên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
Áp dụng hình phạt bổ sung, phạt bị cáo Trương Vĩ Minh Kh số tiền 20.000.000 đồng để nộp vào Ngân sách nhà nước.
Kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ đối tượng tên Hồng Chí Cam có hành vi bán ma túy cho Kh, khi nào đủ cơ sở sẽ xử lý sau.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo xác định chưa hưởng lợi từ việc bán ma túy nên không buộc bị cáo nộp khoản thu lợi bất chính.
Về xử lý vật chứng:
Đối với số ma túy còn lại sau giám định gồm 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Đại úy Võ La Bảo Yến, Lê Chí Thọ, ghi vụ số 10016 (1995/23), 02 (hai) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Đại úy Võ La Bảo Yến, Lê Chí Thọ, ghi vụ số 10017 (1996/23), là chất cấm lưu hành nên tiêu hủy.
Đối với số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.
Đối với 01 (một) điện thoại Redmi 10 bị cáo dùm liên lạc bán ma túy nên tịch thu nộp Ngân sách nhà nước.
Đối với 01 (một) cối xoay; 01 (một) cuộn giấy; 01 (một) cân điện tử; 01 (một) bao nylon tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Honda loại Janus, biển số 59P2-640.15, số khung: RLCSEC820HY036962, số máy: E3Y8E036962, qua xác minh do bà Dương Thị Bình M (mẹ ruột của Kh) đứng tên đăng ký xe. Ngày 09/9/2023, bà Minh cho Kh mượn xe mô tô trên để làm phương tiện đi học, đi làm và không biết Kh sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện phạm tội nên trả lại xe mô tô trên cho bà Dương Thị Bình M.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015: Tuyên bố bị cáo Trương Vĩ Minh Kh phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Trương Vĩ Minh Kh 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/9/2023. Phạt bị cáo số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng nộp Ngân sách nhà nước.
2. Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên đại úy Võ La Bảo Yến, Lê Chí Thọ ghi số vụ 10016(1995/23); 02 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên đại úy Võ La Bảo Yến, Lê Chí Thọ, ghi vụ số 10017(1996/23); Trả lại cho bị cáo số tiền số tiền 3.000.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, số imei1: 352048880267417, số imei2: 35204888039635; Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Redmi 10, số imei1: 866876050873021, số imei2: 866876050873039; Tịch thu tiêu hủy 01 cối xay, 01 cuộn giấy, 01 cân điện tử, 01 bao nylon; Trả lại cho bà Dương Thị Bình M 01 xe mô tô biển số 59P2–640.15, số máy: E3Y8E036962, số khung: RLCSEC820HY036962.
(Theo các Phiếu nhập kho vật chứng số 280/2023/PNK-THAHS ngày 22/11/2023, Phiếu nhập kho vật chứng số 281/2023/PNK-THAHS ngày 22/11/2023, Phiếu nhập kho vật chứng số 295/2023/PNK-THAHS ngày 22/11/2023, của Đội THAHS&HTTP, Công an Quận 1)
3. Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
4. Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
5. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Công an TP.HCM (PC 53 - Đ3); - Tòa án nhân dân TP. HCM; - Sở Tư pháp TP. HCM; - Viện kiểm sát nhân dân Quận 1; - Công an Quận 1; - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1; - Thi hành án hình sự Quận 1; - Các đương sự; - Lưu VP - hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguyễn Nhật Minh |