vanban.org

Bản án 202/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Lệ H về việc ly hôn với anh Nguyễn Văn L.

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Trương Lệ H và anh Nguyễn Văn L. Về án phí: Các đương sự không phải chịu.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Lệ H"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Lệ H về việc ly hôn với anh Nguyễn Văn L.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 202/2026/HNGĐ-ST
Ngày 15-5-2026
V/v không công nhận quan hệ vợ chồng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hợp.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng.

2. Bà Đỗ Mỹ Lil.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Huỳnh Hiếu Nghĩa – Thư ký tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau.

Ngày 15 tháng 5 năm 2026 tại Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 419/2026/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2026, về không công nhận quan hệ vợ chồng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trương Lệ H, sinh năm 1964; số CCCD xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 01/11/2022; địa chỉ: Ấp C, xã N, tỉnh Cà Mau; có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1975; số CCCD xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 04/4/2024; địa chỉ: Ấp R, xã N, tỉnh Cà Mau; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn Trương Lệ H trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh L sống chung năm năm 1995, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức hôn lễ, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, hiện vợ chồng chị đã ly thân nhau. Chị cho rằng cuộc sống chung không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn thường xuyên xảy ra và không hàn gắn được nên chị yêu cầu ly hôn với anh L.

Về con chung: Chị và anh L có hai người con chung Nguyễn Nhứt Đ, sinh năm 1997 và Nguyễn Nhật T, sinh năm 2001. Hiện các con đã trưởng thành, có cuộc sống riêng ổn định không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị xác định chị và anh L không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Lời trình bày tại phiên toà, bị đơn Nguyễn Văn L trình bày:

Về hôn nhân: Anh thống nhất với trình bày của chị H về thời gian chung sống, thời gian kết hôn, hôn nhân do anh tự nguyện lựa chọn, anh đồng ý ly hôn với chị H.

Về con chung: Anh và chị H có hai người con chung Nguyễn Nhứt Đ, sinh năm 1997 và Nguyễn Nhật T, sinh năm 2001. Hiện các con đã trưởng thành, có cuộc sống riêng ổn định không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Giữa anh và chị H không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh L có nơi cư trú tại xã N, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị H khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với anh L nên quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Năm 1995, anh chị sống chung với nhau là hoàn toàn tự nguyện, tuy nhiên không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên không có cơ sở công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị H, anh L. Anh chị đã vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình. Xét nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, anh L đồng ý ly hôn với chị H, đồng thời hôn nhân có vi phạm về mặt hình thức nên không được công nhận là vợ chồng là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng gữa chị H, anh L.

[3] Về con chung: Anh chị có hai người con chung Nguyễn Nhứt Đ, sinh năm 1997 và Nguyễn Nhật T, sinh năm 2001. Các con chung hiện đã trưởng thành, có cuộc sống riêng ổn định không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị H và anh L thống nhất xác định giữa anh chị không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu toà án giải quyét nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp có phát sinh về tài sản chung, nợ chung thì các bên có quyền khởi kiện thành một vụ án khác theo quy định pháp luật.

[5] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị H thuộc trường hợp miễn án phí nên không phải chịu, anh L không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 238, Điều 235, khoản 2 Điều 244, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 53, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Lệ H về việc ly hôn với anh Nguyễn Văn L.

1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Trương Lệ H và anh Nguyễn Văn L.

2. Về án phí: Các đương sự không phải chịu.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ