- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Đình Thu và đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lưu Đình Th, Đặng Đình Ch, Bùi Đình K, Mạc Đình Đ phạm tội: Đánh bạc.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 202/2024/HS-ST Ngày 30 tháng 12 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Hiểu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến Lợi;
Bà Nguyễn Thị Luận.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đắc Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Vương - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 218/2024/TLST-HS ngày 02/12/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 217/2024/QĐXXST-HS ngày 17/12/2024 đối với các bị cáo:
1. Lưu Đình Th, sinh năm: 1969; Tên gọi khác: Không; ĐKNKTT và cư trú tại: thôn Phú Bến, xã Thụy Hương, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội; Chỗ ở hiện nay: thôn Trung Tiến, xã Thụy Hương, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 10/12. Con ông: Lưu Đình Th (Đã chết); Con bà: Nguyễn Thị Ch (Đã chết). Vợ: Nguyễn Thị X, sinh năm: 1973; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 1995. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 14/9/2024 đến ngày 23/9/2024, hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
2. Đặng Đình Ch, sinh năm: 1971; Tên gọi khác: Không; ĐKNKTT và cư trú tại: thôn Ứng Hòa, xã Lam Điền, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 05/10. Con ông: Đặng Đình Th (Đã chết); Con bà: Lê Thị Th (Đã chết). Vợ: Lê Thị V sinh năm: 1971; Con: Có 03 con, lớn sinh năm 1991 (Đã chết), nhỏ sinh năm 1993 và năm 2005. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 26/9/2016, bị Công an huyện Chương Mỹ xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc” số tiền 1.500.000 đồng, đã nộp phạt ngày 13/10/2016.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 14/9/2024 đến ngày 23/9/2024, hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
3. Bùi Đình K, sinh năm: 1970; Tên gọi khác: Không; ĐKNKTT và nơi cư trú: thôn Lam Điền, xã Lam Điền, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/10. Con ông: Bùi Đình Ch (Đã chết); Con bà: Lê Thị Th, sinh năm: 1934. Vợ: Đặng Thị H, sinh năm: 1978. Con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2010. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 14/9/2024 đến ngày 23/9/2024, hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
4. Mạc Đình Đ, sinh năm: 1969, Tên gọi khác: Không; ĐKNKTT và nơi cư trú: thôn Trung Tiến, xã Thụy Hương, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công chức; Trình độ văn hoá: 12/12; Chức vụ chính quyền: Nguyên Chủ tịch UBND xã Thụy Hương, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội; Chức vụ đoàn thể: Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam - Ủy viên ban thường vụ Đảng ủy xã Thụy Hương. Ngày 13/11/2024, Uỷ ban kiểm tra huyện ủy Chương Mỹ ban hành Quyết định đình chỉ sinh hoạt số 250-QĐ/UBKTHU đối với Mạc Đình Đ. Con ông: Mạc Đình V (Đã chết); Con bà: Nguyễn Thị Th (Đã chết). Vợ: Nguyễn Thị Th, sinh năm: 1970 Con: Có 02 con, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 1998. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 14/9/2024 đến ngày 19/9/2024, hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 14/09/2024, sau khi Lưu Đình Th, Đặng Đình Ch và Bùi Đình K cùng nhau ăn sáng, khi gặp Mạc Đình Đ tại khu vực gần nhà Th thuộc thôn Trung Tiến, xã Thụy Hương, huyện Chương Mỹ, TP. Hà Nội. Lúc này, Th, K, Đ, Ch cùng rủ nhau về nhà Th để tham gia đánh bạc dưới hình thức đánh “tá lả” được thua bằng tiền. Tại nhà ở của mình, Th lấy 02 bộ bài tú lơ khơ (mỗi bộ gồm 52 lá bài), trải 01 thảm nỉ hoa văn màu đỏ và 01 thảm nỉ màu xám và trực tiếp tham gia đánh bạc cùng các đối tượng.
Các đối tượng quy ước đánh bạc dưới hình thức đánh “Tá lả” được thua bằng tiền, cụ thể như sau: Sử dụng 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 lá bài chia cho mỗi người 09 lá bài, riêng người chia bài là 10 lá bài, số bài còn lại để ở giữa chiếu làm nọc. Bằng kỹ năng xếp bài, người chơi sẽ xếp bài theo các chất nối tiếp nhau (rô, cơ, tép, bích) hoặc cùng bộ. Người được 10 lá bài sẽ đánh đầu tiên, theo kỹ năng người chơi tiếp theo có thể ăn lá bài hoặc bốc bài ở nọc và đánh theo vòng ngược chiều kim đồng hồ. Nếu ai ăn lá bài ở vòng cuối gọi là ăn chốt. Người chơi có thể xếp toàn bộ bài trên tay thành các bộ “Phỏm” thông thường có 03 phỏm gọi là Ù hoặc hết ván chơi cộng điểm ai ít điểm nhất là người về nhất và người ít điểm tiếp theo là về nhì, về ba, về bét, ai không có phỏm gọi là móm. Quy định cộng điểm “J” tính là 11 điểm, “Q” tính là 12 điểm, “K” tính là 13 điểm, “Át” là 1 điểm, các lá còn lại tính theo giá trị lá bài. Quy định thắng thua như sau: Người về nhất hoặc Ù thắng và lấy tiền của 03 người còn lại. Ai được Ù thắng bạc, ba người còn lại phải trả cho người ù 300.000 đồng. Ai về nhì phải trả cho người nhất 50.000 đồng, ai về ba phải trả cho người nhất 100.000 đồng, ai về bét phải trả cho người nhất 150.000 đồng, ai móm phải trả cho người nhất 200.000 đồng, ai bị ăn chốt phải trả cho người ăn 200.000 đồng. Nếu ai Ù phải bỏ ra 20.000 đồng tiền “gà” ra cạnh chiếu.
Trong quá trình các đối tượng đánh bạc thì có Nguyễn Duy Soạn, sinh năm: 1955; Trú tại: Thôn Chúc Đồng, xã Thụy Hương, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội và Dương Thị Ngọc, sinh năm: 1960; Trú tại: Thôn Phù Bến, xã Thụy Hương, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội, đến nhà Lưu Đình Th ngồi chơi, xem các đối tượng đánh bạc.
Đến 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi các đối tượng đang tham gia đánh bạc tại nhà Lưu Đình Th thì bị lực lượng Công an huyện Chương Mỹ, phối hợp cùng Công an xã Thụy Hương bắt quả tang, thu giữ tang vật và đưa về trụ sở làm việc.
Vật chứng thu giữ:
- 02 thảm nỉ, trong đó: 01 thảm nỉ hoa văn màu đỏ, 01 thảm nỉ màu xám
- 02 bộ bài tú lơ khơ (mỗi bộ gồm 52 lá bài);
- Tiền thu dưới chiếu bạc: 320.000 đồng;
- Tiền thu giữ trên người các đối tượng đánh bạc: Lưu Đình Th giao nộp 400.000 đồng; Bùi Đình K giao nộp 4.540.000 đồng; Mạc Đình Đ giao nộp 1.550.000 đồng; Đặng Đình Ch giao nộp 6.740.000 đồng.
Tổng số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc là: 13.550.000 đồng (Mười ba triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng).
Quá trình điều tra xác định hành vi cụ thể của các bị can như sau:
1. Bị can Lưu Đình Th: Th là chủ nhà cho phép các đối tượng K, Ch, Đ đánh bạc dưới hình thức đánh “tá lả” tại nhà ở của mình, trải 02 thảm nỉ và lấy 02 bộ bài tú lơ khơ làm công cụ đánh bạc và trực tiếp tham gia đánh bạc cùng K, Ch, Đ. Khi tham gia đánh bạc, Th có 350.000 đồng, sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc. Th ù 02 ván, đã bỏ ra ngoài 40.000 đồng tiền “gà”. Khi bị bắt, Th vơ tiền dưới chiếu bạc phía trước mặt mình cất giấu trên người, không rõ thắng thua. Sau đó, Th đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an số tiền 400.000 đồng cất giấu trên người.
2. Bị can Đặng Đình Ch: Khi tham gia đánh bạc, Ch có 5.000.000 đồng, sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc. Ch ù 01 ván, đã bỏ ra ngoài 20.000 đồng tiền “gà”. Khi bị bắt Ch vơ tiền dưới chiếu bạc phía trước mặt mình cất giấu trên người số tiền 6.740.000 đồng, không rõ thắng thua. Sau đó, Ch đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an số tiền trên.
3. Bị can Bùi Đình K: Khi tham gia đánh bạc, K có 4.700.000 đồng, sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc. Khi bị bắt K vơ tiền dưới chiếu bạc phía trước mặt mình số tiền 4.540.000 đồng, cất giấu trên người, không rõ thắng thua. Sau đó, K đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an số tiền trên.
4. Bị can Mạc Đình Đ: Khi tham gia đánh bạc, Đ có 3.500.000 đồng, sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc. Khi bị bắt Đ vơ tiền dưới chiếu bạc phía trước mặt mình số tiền 1.550.000 đồng cất giấu trên người, không rõ thắng thua. Sau đó, Đ đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an số tiền trên.
Tại bản Cáo trạng số: 202/CT-VKS ngày 26/11/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố các bị cáo Lưu Đình Th, Đặng Đình Ch, Bùi Đình K, Mạc Đình Đ về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo Lưu Đình Th, Đặng Đình Ch, Bùi Đình K, Mạc Đình Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, ăn năn với hành vi phạm tội của mình. Bị cáo Mạc Đình Đ có ý kiến bị cáo có 30 năm làm công chức công tác tại địa phương có nhiều thành tích trong công tác, hiện bị cáo đang mắc nhiều bệnh nặng. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình, nhân thân của các bị cáo để cho các bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo được trở về lao động hòa nhập xã hội, giúp đỡ gia đình.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bị cáo Lưu Đình Th, Đặng Đình Ch, Bùi Đình K, Mạc Đình Đ đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt: Bị cáo Lưu Đình Th từ 9 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt: Bị cáo Đặng Đình Ch từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt: Bị cáo Bùi Đình K từ 6 tháng đến 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt: Bị cáo Mạc Đình Đ từ 6 tháng đến 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo
Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 02 thảm nỉ, trong đó: 01 thảm nỉ hoa văn màu đỏ, 01 thảm nỉ màu xám; 02 bộ bài tú lơ khơ (mỗi bộ gồm 52 lá bài); tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 13.550.000 đồng (Mười ba triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng).
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chương Mỹ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của các bị cáo Lưu Đình Th, Đặng Đình Ch, Bùi Đình K, Mạc Đình Đ nhận thấy:
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, các lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 14/09/2024, Lưu Đình Th, Đặng Đình Ch và Bùi Đình K, Mạc Đình Đ gặp và cùng rủ nhau về nhà Lưu Đình Th để tham gia đánh bạc dưới hình thức đánh “tá lả” được thua bằng tiền. Tại nhà ở của mình, Th lấy 02 bộ bài tú lơ khơ (mỗi bộ gồm 52 lá bài), trải 01 thảm nỉ hoa văn màu đỏ và 01 thảm nỉ màu xám và trực tiếp tham gia đánh bạc cùng các đối tượng. Đến 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi các đối tượng đang tham gia đánh bạc tại nhà Lưu Đình Th thì bị lực lượng Công an huyện Chương Mỹ bắt quả tang, thu giữ tang vật. Th tổng số tiền trên chiếu bạc là 13.550.000 đồng (Mười ba triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) trong đó có 60.000 đồng tiền “gà”.
Bị cáo Lưu Đình Th có hành vi chuẩn bị dụng cụ, cho 03 đối tượng đánh bạc trái phép tại nơi ở của mình, thu lợi tiền “gà” và trực tiếp tham gia đánh bạc có dấu hiệu của Tội gá bạc, tuy nhiên do có dưới 10 người đánh bạc và dưới 02 chiếu bạc nên không đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” theo quy định tại Điều 322 Bộ luật hình sự năm 2015. Hành vi của Lưu Đình Th là đồng phạm với các bị cáo khác về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015.
Hành vi của các bị cáo Lưu Đình Th, Đặng Đình Ch, Bùi Đình K, Mạc Đình Đ đã sử dụng bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài để đánh bạc bằng hình thức đánh “tá lả” được thua bằng tiền với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 13.550.000 đồng đã phạm vào tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đều có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố đối với các bị cáo Lưu Đình Th, Đặng Đình Ch, Bùi Đình K, Mạc Đình Đ về tội danh trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Đối với Nguyễn Duy Soạn và Nguyễn Thị Ngọc đến nhà Lưu Đình Th ngồi chơi, xem các đối tượng tham gia đánh bạc, Soạn và Ngọc không tham gia đánh bạc nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong vụ án có đồng phạm, các bị cáo Lưu Đình Th, Đặng Đình Ch, Bùi Đình K, Mạc Đình Đ cùng rủ nhau đánh bạc tại nhà bị cáo Lưu Đình Th. Các bị cáo tiếp nhận ý chí cùng tham gia đánh bạc, hành vi của các bị cáo là đồng phạm giản đơn cùng thực hiện hành vi phạm tội đánh bạc. Khi tham gia đánh bạc Lưu Đình Th sử dụng 350.000 đồng, Đặng Đình Ch sử dụng 5.000.000 đồng, Bùi Đình K sử dụng 4.700.000 đồng, Mạc Đình Đ sử dụng 3.500.000 đồng vào mục đích đánh bạc. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đánh bạc trái phép được thua bằng tiền xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự tại địa phương nên cần có hình phạt nghiêm, phù hợp để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về nhân thân: Các bị cáo Lưu Đình Th, Bùi Đình K, Mạc Đình Đ phạm tội lần đầu. Bị cáo Đặng Đình Ch, có nhân thân Ngày 26/9/2016, bị Công án huyện Chương Mỹ xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc” số tiền 1.500.000 đồng, đã nộp phạt ngày 13/10/2016, đã quá thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Các bị cáo Lưu Đình Th, Đặng Đình Ch, Bùi Đình K, Mạc Đình Đ phạm tội lần đầu, lần phạm tội này thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo Mạc Đình Đ quá trình công tác được tặng nhiều Bằng khen, Giấy khen, bản thân bị cáo mắc nhiều bệnh nựng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo Lưu Đình Th, Đặng Đình Ch, Bùi Đình K, Mạc Đình Đ phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo đều có 02 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Lần phạm tội này các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, các bị cáo cã n¬i c- tró râ rµng, có khả năng tự cải tạo, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội nên các bị cáo có đủ các điều kiện để áp dụng biện pháp chấp hành hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 cũng đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo các bị cáo, tạo cơ hội cho các bị cáo tu dưỡng, rèn luyện bản thân để trở thành công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 02 thảm nỉ, trong đó: 01 thảm nỉ hoa văn màu đỏ, 01 thảm nỉ màu xám; 02 bộ bài tú lơ khơ gồn 52 quân là công cụ phương tiện các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với số tiền thu giữ là 13.550.000 đồng (Mười ba triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Lưu Đình Th, Đặng Đình Ch, Bùi Đình K, Mạc Đình Đ phạm tội: Đánh bạc.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt:
Bị cáo Lưu Đình Th 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án.
Bị cáo Đặng Đình Ch 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi tư) tháng, kể từ ngày tuyên án.
Bị cáo Bùi Đình K 08 (Tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 (Mười sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Mạc Đình Đ 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án.
Giao các bị cáo Lưu Đình Th, Mạc Đình Đ cho Ủy ban nhân dân xã Thụy Hương, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao các bị cáo Đặng Đình Ch, Bùi Đình K cho Ủy ban nhân dân xã Lam Điền, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 02 thảm nỉ, trong đó: 01 thảm nỉ hoa văn màu đỏ, 01 thảm nỉ màu xám; 02 (hai) bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/12/2024 giữa Công an huyện Chương Mỹ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ).
- Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền: 13.550.000 đồng (Mười ba triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng).
(Theo Giấy ủy nhiệm chi số 146 của Công an huyện Chương Mỹ chuyển tiền vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ tại kho bạc Nhà nước huyện Chương Mỹ ngày 28/11/2024).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và xử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Lưu Đình Th, Đặng Đình Ch, Bùi Đình K, Mạc Đình Đ mỗi người phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân TP Hà Nội; - Viện KSND Huyện Chương Mỹ; - Công an Huyện Chương Mỹ; - Chi cục THADS Huyện Chương Mỹ; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Quang Hiểu |