- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hợp đồng vay tài sản U - L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Phương U. Buộc chị Hà Kim L phải có nghĩa vụ trả cho chị Phạm Phương U số tiền vốn và lãi là 976.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 202/2024/DSST. Ngày 09/7/2024. Về việc tranh chấp: “ Hợp đồng vay tài sản” . |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Việt Chương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Tám.
2. Ông Phạm Trung Thành.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Tín - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè.
Ngày 09/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 636/2023/TLST-DS ngày 08/11/2023 về việc tranh chấp “ Hợp đồng vay tài sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 189/2024/QĐXX-ST, ngày 05/6/2024, giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Chị Phạm Phương U, sinh năm 1988. Địa chỉ: ấp X, xã Y, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.( có mặt).
2/ Bị đơn: Chị Hà Kim L, sinh năm 1988. Địa chỉ : ấp X, xã Y, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.( vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 03/7/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị Phạm Phương U trình bày:
Do chổ bạn bè thân thiết nên chị Hà Kim L đã đến gặp chị U hỏi mượn tiền nhiều lần với lý do là cần tiền để trả nợ và kinh doanh vé máy bay. Đến ngày 19/12/2022 thì hai bên chốt lại số nợ thì chị L còn nợ lại số tiền là 792.000.000 đồng.
Đến ngày 05/5/2023 thì chị L mượn tiếp số tiền 96.000.000 đồng. Tổng cộng hai lần với số tiền là 888.000.000 đồng.
Cả hai lần vay chị L điều có làm giấy biên nhận và ký tên. Đối với số tiền vay lần thứ nhất chị L hẹn khi chị U có yêu cầu thì báo cho chị L một tuần, đối với số tiền vay lần thứ hai chị L hẹn trong vòng một tháng. Nhưng đến khi chị U có nhu cầu lấy lại số tiền trên thì chị L hẹn hoài nhưng không trả và kéo dài cho đến nay. Đối với số tiền trên khi cho vay không có tính lãi.
Nay chị U khởi kiện yêu cầu chị L phải trả cho chị U số tiền là 888.000.000 đồng, làm một lần kể từ khi án có hiệu lực pháp luật và yêu cầu tính lãi kể từ ngày 05/6/2023 cho đến ngày xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà hôm nay cũng như trong quá trình giải quyết vụ án chị Hà Kim L vắng mặt nhưng đã được tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, kết quả hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật nhưng vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị U.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật Hội đồng xét xử có nhận định như sau:
. Về thủ tục tố tụng:
1.1- Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Phương U yêu cầu chị Hà Kim L trả số tiền vay là 888.000.000 đồng nên xác định đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ vào địa chỉ sinh sống của chị Hà Kim L ở ấp X, xã Y, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè theo quy định tại khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quan hệ tranh chấp được xác định là “Hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự.
1.2- Chị Hà Kim L đã được tòa án tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật nhưng chị vắng mặt không lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị L .
.Về nội dung:
2.1. Căn cứ vào đơn khởi kiện, bản tự khai của đương sự và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm. Hội đồng xét xử xét thấy nguyên đơn chị Phạm Phương U có cho chị Hà Kim L vay hai lần với tổng số tiền là 888.000.000 đồng và chị L có làm giấy biên nhận nợ, ký tên nhưng sau đó chị L không trả và kéo dài cho đến nay. Nay chị U yêu cầu chị L trả số tiền 888.000.000 đồng là có căn cứ. Căn cứ Điều 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị U.
2.2- Về lãi suất chị Phạm Phương U yêu cầu chị Hà Kim L trả lãi với mức lãi suất là 0,83%/ tháng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Chị U yêu cầu tính lãi số tiền 888.000.000 từ ngày 05/6/2023 cho cho đến ngày xét xử sơ thẩm là 12 tháng với mức lãi suất là 10%/ năm ( tức 0,83%/ tháng). Số tiền lãi được tính như sau: 888.000.000 đồng x 12 tháng x 0,83% = 88.444.800 đồng.
Tổng cộng tiền gốc và lãi chị L phải trả cho chị U là 888.000.000 đồng + 88.444.800 đồng tiền lãi = 976.444.800 đồng.
2.3- Chị Hà Kim L đã được triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật nhưng chị vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến gì đến yêu cầu khởi kiện của chị U, điều đó cho thấy chị đã đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chị U và được xác định là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Xét thấy số tiền trên đáng lẽ ra chị L phải trả đúng theo thoả thuận nhưng kéo dài đến nay là vi phạm nghĩa vụ, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của chị U.
. Chị Hà Kim L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH :
Áp dụng:
- Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 463 , Điều 466, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự;
- Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Phương U. Buộc chị Hà Kim L phải có nghĩa vụ trả cho chị Phạm Phương U số tiền vốn và lãi là 976.444.800 đồng, kể từ khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền phải thi hành, nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì còn phải chịu thêm khoản lãi trên số tiền chậm trả theo mức lãi suất qui định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
2. Án phí :
- Chị Hà Kim L phải chịu 41.293.344 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn lại cho chị Phạm Phương U 19.320.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0014519 ngày 08/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè.
3- Chị Phạm Phương U được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Chị Hà Kim L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Cái Bè; - Chi cục THADS huyện Cái Bè ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Trương Việt Chương |