vanban.org

Bản án 202/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 26/09/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/09/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Duy V. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 28/2023/HS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar về phần hình phạt. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án số: 202/2023/HS-PT - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 202/2023/HS-PT
Ngày 26/9/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Huyền.

Các Thẩm phán: Ông Trịnh Văn Toàn; ông Nguyễn Duy Thuấn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Văn Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Châu - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 213/2023/TLPT-HS ngày 28/8/2023. Do có kháng cáo của bị cáo Ngô Duy V đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 28/2023/HS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk.

* Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Ngô Duy V, sinh năm 1994, tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; con ông Ngô Văn Đ, sinh năm 1968 và bà Phạm Thị Hoàng A, sinh năm 1971; tiền sự: Không; tiền án: 02 tiền án:

- Bản án số 51/2016/HSST ngày 10/8/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”

- Bản án số 60/2019/HSST ngày 23/10/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/3/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Ông Trương Thái H; địa chỉ: Số I đường N, thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắkvắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Nguyễn Thị Ánh N; địa chỉ: Thôn A, xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.

- Ông Lê Văn Lđịa chỉ: Số C đường C, thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắkvắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 21/02/2023, khi Ngô Duy VTrịnh Quang Tvà Trịnh Minh Kđang ngồi chơi ở nhà Vthì Kgọi điện thoại rủ Trương Thái Hđến nhà Vchơi. Sau đó, Hmượn chiếc xe mô tô biển số 47H1 – 462.47, nhãn hiệu Honda; số loại SH Mode của chị Nguyễn Thị Ánh Nrồi Hđiều khiển chiếc xe mô tô trên đi đến nhà VĐến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, Vnhận được điện thoại của Trần Thanh T1gọi điện thoại nói Vchở T1đến nhà Vchơi, do không có xe nên Vhỏi mượn anh Hchiếc xe mô tô biển số 47H1 - 462.47 để đi chở T1thì anh Hòa đồng ý.

Trong lúc điều khiển xe đi trên đường thì Vdừng lại mở cốp xe ra thì Vthấy trong cốp xe có 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 024561, của chiếc xe mô tô biển số 47H1 - 462.47 mang tên Nguyễn Thị Ánh NLúc này Vnhớ ra vào khoảng đầu tháng 2/2023, anh Lê Văn Lcó hỏi Vbiết ai bán xe mô tô cũ loại xe SH Mode giá khoảng 40.000.000 đồng trở xuống thì giới thiệu cho anh LThấy chiếc xe mô tô biển số 47H1 – 462.47 phù hợp nên Vnảy sinh ý định bán chiếc xe mô tô trên cho anh Lđể lấy tiền mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân. Sau đó, Vđiều khiển chiếc xe đi đến nhà anh T1và ngủ lại, còn KTHngủ lại nhà Vđể Hchờ Vvề lấy xe về trả lại cho chị N

Khoảng 07 giờ ngày 22/02/2023, Vđiều khiển xe mô tô biển số 47H1 – 462.47 đi đến tiệm bánh mì “Trinh Trinh” của anh Lê Văn Ltại tổ dân phố B, thị trấn Qđể bán chiếc xe mô tô trên. Vnói xe của em gái họ của Vdo có việc cần nên nhờ Vmang đi bán. Sau khi kiểm tra giấy tờ xe và đối chiếu chiếc xe, thấy phù hợp nên anh Lđã mua với giá 38.000.000 đồng, hai bên lập giấy tờ mua bán và cùng ký tên xác nhận. Khi anh Hhỏi Vvề chiếc xe thì Vnói đã mang đi cầm cố lấy số tiền 12.000.000 đồng nhưng không nói rõ là cầm cố ở đâu, đồng thời Vhứa hẹn với anh Hlà 04 ngày sau sẽ chuộc chiếc xe về trả lại cho anh Hthì anh Hòa đồng ý.

Đến ngày 26/02/2023, do Vđã sử dụng một phần số tiền bán xe có được để mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân nên không đủ để chuộc lại chiếc xe cho anh Hnên anh Hvà chị Nlàm đơn tố giác đến Cơ quan Công an việc Ngô Duy Vđã có hành vi chiếm đoạt chiếc xe mô tô nêu trên.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 27/KL-HĐĐGTS ngày 16/3/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ckết luận: 01 xe mô tô biển số 47H1 - 462.47, xe nhãn hiệu HONDA, số loại SH MODE, màu sơn xe: Đỏ - Đen, số khung: RLHJF5133GZ237922, số máy: JF51E0864606, mua vào tháng 9/2017 với số tiền 53.000.000 đồng, tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 21/02/20223, giá trị còn lại là 39.500.000 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 28/2023/HS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk, đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Ngô Duy Vphạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 175; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Ngô Duy V 04 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 24/3/2023.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 20/7/2023, bị cáo Ngô Duy Vcó đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên kháng cáo và khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng: Mức hình phạt 04 năm tù mà Bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo Ngô Duy Vvề tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không có thêm tình tiết giảm nhẹ mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Duy V– Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 28/2023/HS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 21/02/2023, bị cáo Ngô Duy Vđã có hành vi mượn của anh Trương Thái Hchiếc xe mô tô biển số 47H1 - 462.47, xe nhãn hiệu HONDA, số loại SH MODE, sau đó đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Giá trị tài sản chiếm đoạt là 39.500.000 đồng. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nên Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo Ngô Duy Vvề tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Ngô Duy VHội đồng xét xử thấy rằng: Mức hình phạt 04 năm tù mà Bản án sơ thẩm xử phạt đối với bị cáo là thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Bởi lẽ, trước đó vào các năm 2016 và 2019, bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar xét xử về các tội xâm phạm quyền sở hữu nhưng chưa được xóa án tích, mà lại tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Bản án sơ thẩm đã áp dụng đúng, đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, tại cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ mới. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo mà cần giữ nguyên Bản án sơ thẩm về phần hình phạt.

Các quyết định của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Duy V.

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 28/2023/HS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar về phần hình phạt.

2. Về hình phạt:

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 175; điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Ngô Duy V 04 (bốn) năm tù, về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 24/3/2023.

3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Ngô Duy V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ