- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn Hậu - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 202/2022/HS-ST Ngày: 24-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Danh Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Dũng
2. Ông Hoàng Công Hải
Thư ký phiên toà: Ông Vương Thanh Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên tòa: Bà Tăng Thị Thu Hường - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 11 năm 2022, tại phòng xử án Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 177/2022/TLST - HS ngày 06 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 360/2022/QĐXXST - HS ngày 11 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Văn H; Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh ngày: 10/10/1994, tại huyện D, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 6/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ và tên cha: Vũ H1, họ và tên mẹ: Cao Thị C. Anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ tư trong gia đình. Vợ, con: Chưa có.Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/6/2022 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Vũ H1, sinh năm 1959. (Có mặt)
Trú tại: Xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An
Người chứng kiến: Anh Đinh Văn H2, sinh năm 1981. (Vắng mặt)
Trú tại: Xóm F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 12/6/2022, Vũ Văn H nảy sinh ý định mua ma túy để sử dụng nên nhắn tin qua ứng dụng Z cho một người có tên tài khoản là “Tuấn K” với nội dung “Có đồ không để cho tui năm trăm?”, nghĩa là H muốn mua 500.000 đồng ma túy. Người đó nhắn lại “Có, mi xuống bỏ tiền ở cổng chào xóm F, xã D rồi xuống nhà hoang ở bãi biển D, vào phòng kho sấy ở trong cùng lấy ma túy bỏ trong gói thuốc lá Thăng Long”. H nhắn lại “Ok” tức là đồng ý. Sau đó, H đi đến cổng chào xóm F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An bỏ 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) cuộn trong một khẩu trang y tế màu xanh để ở chân cổng chào rồi nhắn tin cho người kia. Người đó nhắn tin lại “Xuống mà lấy hàng đi”. Vũ Văn H đi bộ đến khu vực nhà hoang. Trên đường đi thì người đó nhắn tin lại là đã lấy được tiền rồi. Đến khoảng 20 giờ 40 phút cùng ngày, H đi vào nhà hoang, vào phòng có chữ “Kho sấy” rồi đi sâu vào phía trong thì thấy trên nền nhà có 01 gói thuốc lá Thăng Long. H cầm gói thuốc lá lên, mở ra thì thấy bên trong có chứa 01 gói ni lông màu trắng bên trong có chứa 10 viên ma túy. H cầm gói ni lông có chứa ma túy cất vào túi quần phía trước bên phải rồi đi về. Khi đi đến cửa nhà hoang thì bị Công an xã D và Công an huyện D kiểm tra, bắt quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thu giữ tại túi quần phía trước bên phải mà H đang mặc 01 gói ni lông màu trắng, bên trong có chứa 10 viên nén màu hồng, nghi là ma túy; thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh dương, bên trong có sim số 0986.793.097.
Tại bản kết luận giám định số 864/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 17/6/2022 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Vũ Văn H gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine). 10 viên nén màu hồng có đặc điểm giống nhau thu giữ khi bắt quả tang Vũ Văn H có tổng khối lượng là 01gam.
Tại bản cáo trạng số: 201/CT-VKS DC ngày 03/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu truy tố Vũ Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử; Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt Vũ Văn H từ 18 tháng đến 21 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, khoản 3, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; đề nghị tịch thu tiêu hủy 07 viên ma túy có tổng khối lượng 0,7 gam (Methamphetamine) là vật chứng còn lại sau khi đã lấy mẫu giám định thu của Vũ Văn H.
- Đề nghị trả lại 01 chiếc điện thoại di động hiệu Vivo, màu xanh dương, bên trong có sim số 0986.793.097 cho ông Vũ H1. (Là chiếc điện thoại mà bị cáo mượn của ông H1 để sử dụng nhắn tin, liên lạc mua ma túy, việc bị cáo mượn chiếc điện thoại của ông Vũ H1 nhưng ông H1 không biết bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma túy).
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không tranh luận gì; lời nói sau cùng của bị cáo sau khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện D, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà; bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện hợp pháp.
. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội, khai nhận hành vi thực hiện của mình phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với nội dung của Cáo trạng đã quy kết, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 20 giờ 40 phút ngày 12/6/2022, tại căn nhà hoang thuộc xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, Công an xã D và Công an huyện D kiểm tra, bắt quả tang Vũ Văn H đang có hành vi tàng trữ trái phép 10 viên ma túy (Methamphetamine) có tổng khối lượng là 01 gam với mục đích để sử dụng. Hành vi đó đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
. Về tính chất vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tính chất vụ án: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý; gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội; mặc dù biết ma túy là chất gây nghiện, có tác hại xấu đến sức khỏe của con người, làm băng hoại đạo đức, lối sống, tuần phong mỹ tục và gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế của bản thân, gia đình và xã hội là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, Nhà nước đã nghiêm cấm các hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng vì thỏa mãn cơn nghiện và thái độ coi thường pháp luật, bị cáo vẫn lao vào con đường phạm tội. Do vậy, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục, đồng thời ngăn ngừa tội phạm mới và răn đe phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, gia đình bị cáo có công với Cách mạng, bố bị cáo thamg gia quân đổi bảo vệ Tổ quốc năm 1977 đến năm 1980, ông nội được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng ba, bà ngoại là mẹ Việt Nam anh hùng, nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; biên bản xác minh điều kiện kinh tế đối với bị cáo và lời khai của bị cáo tại phiên tòa; thì bị cáo không có công việc, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng, sống phụ thuộc vào bố mẹ nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
. Về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày sau khi tuyên án để đảm bảo thi hành án.
. Về vật chứng của vụ án:
- 07 viên ma túy có tổng khối lượng 0,7 gam (Methamphetamine) là vật chứng còn lại sau khi đã lấy mẫu giám định thu của Vũ Văn H, là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 chiếc điện thoại di động hiệu Vivo, màu xanh dương, bên trong có sim số 0986.793.097 mà Cơ quan điều tra đã thu từ bị cáo Vũ Văn H là tài sản của ông Vũ H1, việc bị cáo H sử dụng chiếc điện thoại nhắn tin, liên lạc đề mua ma túy nhưng ông Vũ H1 không biết. Vì vậy, cần trả lại chiếc điện thoại cho ông Vũ H1.
. Về nội dung liên quan khác: Đối với người bán ma túy cho H, mà H đã nhắn tin qua ứng dụng Zalo có tên tài khoản là “Tuấn Kiệt”, do không có thông tin, họ tên, địa chỉ nên không có căn cứ để xác minh xử lý, khi nào xác minh rõ, có căn cứ sẽ xử lý sau.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
- Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Văn H 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 13/06/2022.
3. Về xử lý vật chứng: Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 (Một) phong bì thư theo đúng quy định, dán kín, trên mép dán có chữ ký cán bộ tham gia, bị cáo Vũ Văn H và hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, tỉnh Nghệ An, bên trong có chứa 07 (B) viên ma túy (Methamphetamine) có tổng khối lượng là 0,7 gam (Không phẩy bảy gam); 01 (Một) gói nilon màu trắng và 01 (Một) phong bì thư niêm phong ban đầu là vật chứng còn lại sau khi đã lấy mẫu giám định thu của Vũ Văn H.
Trả lại cho ông Vũ H1 01 (Một) chiếc điện thoại di động hiệu Vivo, màu xanh dương, đã qua sử dụng, Imei 1:8657320584633516, I, bên trong có sim số 0986793097. (Vật chứng hiện đang lưu tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 10/10/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D và Chi cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu và Phiếu nhập kho ngày 07/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu).
4. Về án phí: Bị cáo Vũ Văn H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Diễn Châu; - Chi cục THADS huyện Diễn Châu; - Công an huyện Diễn Châu; - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An; - Bị cáo, người có QLNVLQ; - Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Danh Hùng |