vanban.org

Bản án 202/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 31/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bộ luật hình sự năm 2015; Các Điều 106, 136, 331, 333 của của Bộ luật tố tụng

hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo K tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Tòa quyết gì? Bộ luật hình sự năm 2015; Các Điều 106, 136, 331, 333 của của Bộ luật tố tụng
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 202/2019/HS-ST

Ngày 31 – 10 – 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - chủ toạ phiên tòa: Bà Phan Thị Thu Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Cúc Ông Võ Thanh Liêm - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hân – Cán bộ Toà án - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Đa – Kiểm sát viên Ngày 31 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 209/2019/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo: Họ và tên: K Văn T, tên gọi khác: Dương Văn T; Giới tính: Nam; Sinh ngày 21 tháng 01 năm 2001; Nơi cư trú: Khóm B, phường B, thành phố C, tỉnh Cà Mau; Tạm trú: ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thượng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 01/12. Con ông Dương Văn T, sinh năm 1974 và bà K Kim L, sinh năm 1974. Vợ, con: Chưa có. - Tiền án, tiền sự: Không. - Bị cáo bị tạm giữ ngày 16/6/2019 chuyển tạm giam từ ngày 22/6/2019 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 09 giờ 40 phút ngày 16/6/2019, tại Trạm dừng Xe Buýt đối diện Công viên Hùng Vương thuộc khóm 3, phường 5, thành phố Cà Mau, lực lượng Công an thành phố Cà Mau kết hợp với Phòng PC04 Công an tỉnh Cà Mau bắt quả tang bị cáo Dương Văn T tàng trữ trái phép chất ma túy thu giữ trong túi quần Jean bên trái, phía trước đang mặc trên người của bị cáo, 01 bịch nylon bên trong có chứa tinh thể màu trắng và một ống nỏ thủy tinh dùng để hút chất ma túy.

Qua làm việc bị cáo khai nhận: Tên thật là K Văn T, thử nước tiểu phát hiện nhanh chất ma túy kết luận bị cáo không có sử dụng ma túy. Vào khoảng 07 giờ ngày 16/6/2019, chú của bị cáo tên Dương Văn Đ rủ bị cáo mua ma túy về sử dụng chung thì bị cáo đồng ý. Đồng đưa cho bị cáo số tiền 300.000 đồng để mua ma túy. Bị cáo đón xe buýt tuyến T – thành phố C đi đến Công viên Văn hóa H thì xuống xe, đi đến khu vực khóm B, phường B, thành phố C gặp người thanh niên tên T (chưa xác định được nhân thân) mua 200.000 đồng ma túy đá. Bị cáo cất giấu chất ma túy vào túi quần jean bên trái, phía trước rồi đi xe ôm đến tiệm thuốc tây ngang cổng Bệnh viện Sản Nhi Cà Mau mua 01 cây nỏ thủy tinh để sử dụng ma túy đá, tiếp tục đi xe ôm về trạm xe buýt đối diện Công viên H để đón xe buýt về nhà thì bị bắt quả tang cùng tang vật. Mục đích mua chất ma túy về để sử dụng chung với Dương Văn Đ. * Tại Kết luận giám định số 102/C09B ngày 18/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng bên trong bọc nylon, được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 0,2598 gram, loại Methamphetamine. Hoàn lại đối tượng sau trích giám định còn khối lượng 0,172 gam. - Về vật chứng thu giữ và xử lý: Đối với vật chứng là các gói mẫu vật ký hiệu M.53/2019 hoàn lại sau khi giám định và 01 cây nỏ thủy tinh dùng để sử dụng ma túy. Tại cáo trạng số: 208/CT-VKS ngày 09/10/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau đã truy tố bị cáo K Văn T về tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015. Tại phiên tòa: - Đại diện Viện kiểm sát bảo vệ toàn bộ nội dung cáo trạng đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, tuyên bố bị cáo K Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo K Văn T từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Áp dụng Điều 106 Bộ luật hình sự tịch thu tiêu hủy lượng ma túy cùng bao gói hoàn lại sau giám định và 01 cái nỏ dùng để sử dụng ma túy. - Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trong quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã có hành vi, quyết định tố tụng đúng quy định. [2] Tại phiên tòa, bị cáo K Văn T thừa nhận, vào lúc 09 giờ 40 phút ngày 16 tháng 6 năm 2019, tại khu vực khóm 3, phường N, thành phố C, tỉnh Cà Mau, bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là Methamphetamine, có tổng khối lượng là 0,2598 gram nhằm mục đích sử dụng. bản thân bị cáo có nhiều lời khai về ngày tháng năm sinh, tuy nhiên căn cứ vào lời khai của mẹ bị cáo và xác nhận của Ủy ban nhân dân phường B thành phố Cà Mau thể hiện bị cáo sinh ngày 25/12/2000 âm lịch nhằm ngày 21/01/2001 dương lịch tính đến

ngày thực hiện hành vi tàng trữ ma túy, ngày 16/6/2019 bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Có đủ căn cứ khẳng định hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 đúng như Viện kiểm sát truy tố. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý nhà nước về các chất ma tuý, góp phần gây ra các tệ nạn xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự địa phương. Cần phải xử phạt bị cáo với mức án đủ nghiêm khắc, tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra cũng là để răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến thái độ của bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ khi lượng hình đối với bị cáo. [3] Về tang vật của vụ án: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, các tang vật đã thu giữ cần xử lý như sau: Đối với 0,172g ma túy được hoàn lại sau giám định, là chất cấm lưu hành và 01 (một) nỏ thủy tịnh không còn giá trị sử dụng nên tich thu tiêu hủy. Tang vật đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/10/2019. [4] Đối với Dương Văn Đ, bị cáo khai là người đưa tiền cho bị cáo mua ma túy hiện không có mặt tại địa phương không làm việc được và người thanh niên tên T mà bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo, hiện chưa xác minh được họ tên địa chỉ nên tách ra giao Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh các đối tượng này, điều tra có căn cứ xử lý sau là phù hợp. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Các Điều 106, 136, 331, 333 của của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Tuyên bố bị cáo K Văn T (Dương Văn T) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo K Văn T (Dương Văn T) 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ, ngày 16/6/2019. Về xử lý tang vật đã thu giữ trong vụ án: Tịch thu tiêu hủy 0,172g ma túy, ký hiệu M.53/2019 được hoàn lại sau giám định và 01 (một) nỏ thủy tinh, đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/10/2019 Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ (hai trăm ngàn đồng), bị cáo phải nộp (chưa nộp). Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành

án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ