vanban.org

Bản án 202/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Về quan hệ vợ chồng: Không công nhận bà Võ Thị Nh và ông Lý Thành T là vợ chồng Về con chung: Giao trẻ Võ Lý Minh K, sinh năm: 2001 và trẻ Võ Lý Đông N, sinh năm: 2009 cho ông Lý Thành T nuôi dưỡng Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 Về việc thi hành Luật Hôn nhân…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6
Thành phố Hồ Chí Minh
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 202/2019/HNGĐ -ST
Ngày: 27-3-2019
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Lưu Ly

2/ Ông Đặng Bích Thuận

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Quí – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dịu Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 03 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 807/2018/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2018 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2019/QĐXXST- HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Võ Thị N, sinh năm: 1983; địa chỉ: tổ 13, ấp A, xã C, huyện B, tỉnh T (có mặt)

- Bị đơn: Ông Lý Thành T, sinh năm: 1976; địa chỉ; 549/10D đường L, Phường I, Quận F, TP. Hồ Chí Minh (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/11/2018, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay nguyên đơn, bà Võ Thị N trình bày: bà và ông Lý Thành T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2001, có tổ chức đám cưới nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn nguyên nhân là do trước đó ông T không hoàn thành nghĩa vụ quân sự, bỏ trốn về địa phương nên không làm thủ tục nhập hộ khẩu lại được vì vậy bà và ông T không làm thủ tục đăng ký kết hôn được. Sau khi về chung sống với nhau thì thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do ông T cờ bạc, không chăm lo cho cuộc sống của gia đình, thỉnh thoảng ông T còn đánh bà. Nay bà không còn tình cảm vợ chồng với ông T nên bà yêu cầu được ly hôn với ông T.

Về con chung: Bà và ông T có với nhau 02 (hai) người con chung tên là: Võ Lý Minh K, sinh năm: 2001 và Võ Lý Đông N, sinh năm: 2009. Bà đồng ý giao trẻ K và trẻ N cho ông T nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: hai bên tự thỏa thuận giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: không có

Bị đơn ông Lý Thành T trình bày: Ông và bà N tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2001, có tổ chức đám cưới nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn do vào năm 1998 ông đi nghĩa vụ quân sự và cắt hộ khẩu ở địa phương. Tuy nhiên, ông không hoàn thành nghĩa vụ quân sự bỏ trốn về địa phương vì vậy khi về địa phương ông không làm thủ tục nhập hộ khẩu lại được nên không làm thủ tục đăng ký kết hôn được. Đến năm 2017 thì ông đã nhập được hộ khẩu. Trong thời gian sống chung thì ông và bà N có phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do ông làm xây dựng bị thất bại nên không đủ khả năng phụ giúp kinh tế gia đình vì vậy mà vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Nay ông cũng xác định tình cảm giữa ông và bà N không còn nên ông cũng đồng ý ly hôn.

Về con chung: Ông và bà N có với nhau 02 (hai) người con chung tên là: Võ Lý Minh K, sinh năm: 2001 và Võ Lý Đông N, sinh năm: 2009. Ông đồng ý nuôi dưỡng hai trẻ Minh K và Đông N. Về cấp dưỡng nuôi con: hai bên tự thỏa thuận giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: không có

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và của Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã đảm bảo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Việc đưa vụ án ra xét xử đúng theo quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: bà Võ Thị N và ông Lý Thành T chung sống với nhau từ năm 2001, có con chung và có đủ điều kiện kết hôn nhưng bà N và ông T lại không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Do đó, theo quy định tại Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử không công nhận bà N và ông T là vợ chồng. Về con chung: giao hai trẻ Võ Lý Minh K, sinh năm 2001 và Võ Lý Đông N, sinh năm: 2009 cho ông T nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: hai bên tự thỏa thuận giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: hai bên khai không có nên không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng và thẩm quyền giải quyết:

Bà Võ Thị N khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lý Thành T nên Tòa án nhân dân Quận 6 thụ lý và giải quyết theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Về quan hệ vợ chồng:

Bà Võ Thị N và ông Lý Thành T chung sống với nhau từ năm 2001, có con chung và có đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuy nhiên, bà N và ông T lại không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Do đó, theo quy định tại Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 quy định “ Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng…” và điểm c khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam quy định “ Kể từ ngày 01/01/2001 trở đi nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận là vợ chồng…”

Nay bà Võ Thị N yêu cầu ly hôn với ông Võ Thành T đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử không công nhận bà Võ Thị N và ông Lý Thành T là vợ chồng

Về con chung: bà Võ Thị N và ông Lý Thành T xác nhận ông bà có với nhau 02 (hai) người con chung tên là Võ Lý Minh K, sinh năm: 2001 và Võ Lý Đông N, sinh năm: 2009. Bà N và ông T thỏa thuận giao hai trẻ Võ Lý Minh K, sinh năm: 2001 và Võ Lý Đông N, sinh năm: 2009 cho ông Lý Thành T nuôi dưỡng. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp thuận giao 02 (hai) trẻ Võ Lý Minh K, sinh năm: 2001 và Võ Lý Đông N, sinh năm: 2009 cho ông Lý Thành T nuôi dưỡng

Về cấp dưỡng nuôi con: Hai bên tự thỏa thuận giải quyết

Về tài sản chung và nợ chung: Hai bên khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết

Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ ( Ba trăm ngàn đồng) do bà Võ Thị N nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 8, 9, 14, 81,82,83,84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 ; Điểm c khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội khóa X ngày 09/6/2000; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

1. Về quan hệ vợ chồng: Không công nhận bà Võ Thị Nh và ông Lý Thành T là vợ chồng

2. Về con chung: Giao trẻ Võ Lý Minh K, sinh năm: 2001 và trẻ Võ Lý Đông N, sinh năm: 2009 cho ông Lý Thành T nuôi dưỡng

Về cấp dưỡng nuôi con: Hai bên tự thỏa thuận giải quyết

Ông Lý Thành T có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi khi bà Võ Thị N đến thăm nom chăm sóc con chung. Vì lợi ích của con khi cần thiết đôi bên đều có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Hai bên khai không có nên không đề cập giải quyết

4. Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ ( Ba trăm ngàn đồng) do bà Võ Thị N nộp được khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí mà bà N đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0010577 ngày 11/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ( mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án

6 .Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ