vanban.org

Bản án 202/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị T,

Chị Lê Thị T được ly hôn với anh Vũ Viết L. Về con chung: Chị Lê Thị T và anh Vũ Viết L có 01 (một) con chung là cháu Vũ Quỳnh Anh, sinh ngày 17/11/2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn do bất đồng"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị T,
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỌ XUÂN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 202/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 05 - 9 - 2019
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tiến

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Trọng Hoành

2. Ông Bùi Thanh Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Ông Đỗ Văn Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân; Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 97/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2019 về "ly hôn, tranh chấp về nuôi con", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2019/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm 1996, nơi ĐKHKTT: thôn L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; hiện cư trú tại: thôn H, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; có mặt.

- Bị đơn: Anh Vũ Viết L, sinh năm 1996, cư trú tại: thôn L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 04 tháng 10 năm 2018, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn là chị Lê Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh L qua tìm hiểu, tự nguyện lấy nhau, có tổ chức cưới theo phong tục tập quán địa phương vào tháng 6 năm 2015, nhưng không đăng ký kết hôn ngay, mà đến sau khi sinh con mới làm đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện T vào ngày 07/6/2016. Sau khi kết hôn vợ chồng chung hòa thuận, đến khoảng đầu năm 2017 vợ chồng ra Hà Nội làm ăn, thời gian đầu tình cảm vợ chồng vẫn bình thường, nhưng đến khoảng đầu năm 2018 thì tình cảm vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong sinh hoạt và vấn đề kinh tế, anh L không tu chí làm ăn, mà ham chơi, hay giao du bạn bè, không quan tâm đến vợ con, nên vợ chồng thường xuyên cãi lộn, xúc phạm nhau. Đến khoảng tháng 5 năm 2018 anh L bỏ về quê sinh sống, còn chị vẫn ở Hà Nội làm ăn, từ đó vợ chồng đã sống ly thân đến nay không còn tình cảm, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L.

Về con chung: Chị T xác định vợ chồng có 01 (một) con chung là cháu Vũ Quỳnh A, sinh ngày 17/11/2015. Quan điểm của chị T là xin được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản và công nợ: Chị T xác định vợ chồng không có tài sản chung và không vay nợ tài sản của ai, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Vũ Viết L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng vắng mặt, nên Tòa án không lấy được lời khai.

Tại biên bản xác minh ngày 04/7/2019, đại diện Ủy ban nhân dân thị trấn L cho biết: Chị Lê Thị T và anh Vũ Viết L có quan hệ là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L vào ngày 07/6/2016; quá trình chung sống tại địa phương chị T và anh L có xảy ra mâu thuẫn, nên hiện nay chị T đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở xã X, còn anh L đi làm ăn, hiện nay anh L không có mặt tại địa phương. Anh L và chị T có 01 con chung là cháu Vũ Quỳnh A, sinh ngày 17/11/2015, hiện đang ở cùng với chị T.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Về hôn nhân: xử cho chị Lê Thị T được ly hôn với anh Vũ Viết L. Về con chung: giao cháu Vũ Quỳnh A cho chị Lê Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản: không xem xét. Về án phí: chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Lê Thị T khởi kiện đề nghị giải quyết xin được ly hôn với anh Vũ Viết L, cư trú tại: thôn L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân.

Qúa trình giải quyết vụ án bị đơn là anh Vũ Viết L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng; Tại phiên tòa hôm nay bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: chị Lê Thị T và anh Vũ Viết L tự nguyện kết hôn, đã được Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện T cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 07/6/2016, nên xác định quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh L là hôn nhân hợp pháp. Nay chị T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết xin được ly hôn với anh L với ly do trong quá trình chung sống tình cảm giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong sinh hoạt và vấn đề kinh tế, anh L không tu chí làm ăn, mà ham chơi, hay giao du bạn bè, không quan tâm đến vợ con, nên vợ chồng thường xuyên cãi lộn, xúc phạm nhau. Từ khoảng tháng 5 năm 2018 vợ chồng đã sống ly thân đến nay không còn tình cảm. Qúa trình giải quyết vụ án anh L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng không đến Tòa án làm việc để trình bày quan điểm, cũng như tham gia các phiên hòa giải, điều đó thể hiện anh L không quan tâm đến việc Tòa án đang giải quyết vụ án, không có thiện chí hàn gắn mối quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng. Hội đồng xét xử xét thấy: quá trình chung sống tình cảm vợ chồng giữa chị T và anh L đã phát sinh nhiều mâu thuẫn và hiện đã sống ly thân, hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu giải quyết ly hôn của chị T, xử cho chị Lê Thị T được ly hôn với anh Vũ Viết L.

Về con chung: Chị Lê Thị T và anh Vũ Viết L có 01 (một) con chung là cháu Vũ Quỳnh A, sinh ngày 17/11/2015, hiện đang ở với chị T.

Xét nguyện vọng xin được nuôi con chung của chị T, thấy rằng: cháu Vũ Quỳnh A là con chung của vợ chồng hiện đang ở ổn định với chị T; chị T có đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung; trong khi anh L quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được Tòa án triệp tập nhiều lần, nhưng không đến Tòa án làm việc, không trình bày quan điểm về nuôi con chung. Do đó xét quyền lợi về mọi mặt của con cần thiết giao con chung cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: anh L không có lời khai trong hồ sơ, còn chị T không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng, do đó Hội động xét xử xem xét ghi nhận.

Về phần tài sản và công nợ: chị T xác định vợ chồng không có tài sản chung, không vay nợ của ai, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; trong khi anh L không có lời khai trong hồ sơ, nên chưa có cơ sở xem xét giải quyết về phần tài sản và công nợ. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị T,

Chị Lê Thị T được ly hôn với anh Vũ Viết L.

2. Về con chung: Chị Lê Thị T và anh Vũ Viết L có 01 (một) con chung là cháu Vũ Quỳnh Anh, sinh ngày 17/11/2015.

Giao cháu Vũ Quỳnh A cho chị Lê Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Vũ Viết L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Vũ Viết L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản và công nợ: Không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Chị Lê Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị T đã nộp, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2017/0001458 ngày 12/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân. Chị Lê Thị T đã nộp đủ tiền án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ