- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên N.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 202/2018/DS-ST Ngày: 24/4/2018 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Công Tình
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thành Vinh
2. Bà Nguyễn Thị Quý
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hoa, là Thư ký Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Võ Cao Hùng – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 480/2017/TLST-DS ngày 25 tháng 10 năm 2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2018/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 3 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 84/2018/QĐST-DS ngày 29 tháng 3 năm 2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên N
Địa chỉ: A đường B, Phường C, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn theo ủy quyền: Ông Phạm Văn D, sinh năm 1995 – địa chỉ: A đường B, PhườngC, quận P, TP. Hồ Chí Minh - văn bản ủy quyền số 54/UQTT-QTRR.17 ngày 18/8/2017 (có đơn xin vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Vũ Thanh H, sinh năm 1968.
Địa chỉ: A đường B, khu phố C, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 13/6/2017, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên N có đại diện theo ủy quyền ông Phạm Văn D trình bày:
Vào ngày 20/3/2015 ông Vũ Thanh H và Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên N ký với nhau hợp đồng tín dụng số 20150318-100206-0002, theo hợp đồng đã ký kết thì Ngân hàng cho ông H vay số tiền là 52.750.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 2,92%/tháng, mục đích vay là tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận thì ông H có trách nhiệm thanh toán cho Công ty số tiền 65.879.000 đồng (cả gốc và lãi) trả chậm trong thời hạn 15 tháng, 14 tháng đầu mỗi tháng trả dần số tiền 4.393.000 đồng, tháng cuối cùng trả số tiền còn lại là 4.377.000 đồng, bắt đầu thực hiện kể từ ngày 19/4/2015.
Thực hiện hợp đồng ông H đã nhận đủ số tiền vay từ Công ty và thực hiện việc thanh toán cho Công ty được 04 lần với tổng số tiền đã trả là 17.572.000 đồng và ngưng không thực hiện kể từ ngày 24/7/2015 cho đến nay, Công ty đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở, nhưng ông H vẫn không thực hiện; vì vậy Công ty làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án xem xét giải quyết:
Buộc ông Vũ Thanh H phải có trách nhiệm thanh toán cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên N số tiền nợ còn thiếu chưa thanh toán là 48.307.000 đồng. Công ty không yêu cầu tính thêm lãi suất.
Bị đơn ông Vũ Thanh H: Từ khi thụ lý hồ sơ vụ án Tòa án nhân dân quận Thủ Đức đã tiến hành triệu tập ông H đến tòa để giải quyết việc kiện của Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên N nhưng ông H không đến; Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho ông H theo quy định của pháp luật, nhưng ông H vẫn vắng mặt tại tòa mà không có lý do, nên mở phiên tòa xét xử vụ án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý vụ án, tiến hành thu thập chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và diễn biến tại phiên tòa đã được Tòa án nhân dân quận Thủ Đức và Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án thực hiện đúng quy trình thủ tục theo quy định của pháp luật; về thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự, nguyên đơn chấp hành các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên N.
Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án gồm có: Điều lệ Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên N; giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty trách nhiệm hưu hạn một thành viên mã số doanh nghiệp 0102180545; Đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng ngày 20/3/2015; phần duyệt của VPB FC ngày 19/3/2015; văn bản ủy quyền số 14/UQ-QTRR.17 ngày 22/3/2017; văn bản ủy quyền số 54/UQTT-QTRR.17 ngày 18/8/2017; phiếu xác minh ngày 25/10/2017.
Các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh; các nội dung đương sự đã thỏa thuận thống nhất được và không thống nhất được do ông H vắng mặt nên các đương sự không thỏa thuận được việc giải quyết vụ án, cũng như làm rỏ các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
{1}. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông Vũ Thanh H cư trú tại địa chỉ số A đường B, khu phố C, phườngL, quận T; nên thẩm quyền giải quyết vụ án này theo trình tự thủ tục sơ thẩm là Tòa án nhân dân quận Thủ Đức; được pháp luật quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
{2}. Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ vào đơn khởi kiện ngày 13/6/2017 và tài liệu, chứng cứ kèm theo của Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên N, thì vụ án có quan hệ tranh chấp là Tranh chấp về hợp đồng dân sự về hợp đồng vay tài sản được pháp luật quy định tại Khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2005.
{3}. Về thủ tục tố tụng:
{3.1}. Nguyên đơn Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên N ủy quyền cho ông Phạm Văn D tham gia tố tụng và được Tòa án chấp nhận là phù hợp với quy định tại Điều 85 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa ông D có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; nên được Hội đồng xét xử chấp nhận
{3.2}. Bị đơn ông Vũ Thanh H, sau khi thụ lý Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án số 480/TB-TLVA ngày 25/10/2017 cho ông H nhưng hết thời hạn được quy định tại Điều 174 và Điều 175 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 ông H không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Tòa án tiếp tục triệu tập và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông H vào các ngày 11/12/2017 và ngày 05/01/2018, nhưng ông H vẫn vắng mặt tại tòa mà không có lý do chính đáng; Tòa án tiến hành lập biên bản về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ mà không hòa giải và thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc tiếp cận công khai chứng cứ cho ông H biết theo quy định tại Khoản 1 Điều 207, Khoản 2 Điều 208 và Khoản 3 Điều 210 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; đồng thời triệu tập ông H tham gia phiên tòa vào lúc 8 giờ 00 phút, ngày 29/3/2018 nhưng ông H vẫn không đến tòa tham gia xét xử vụ án. Hội đồng xét xử sau khi thảo luận và Quyết định hoãn phiên tòa và mở lại phiên tòa vào ngày hôm nay (24/4/2018), nhưng ông H vẫn vắng mặt tại tòa mà không có lý do chính đáng; nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông H là phù hợp, được pháp luật quy định tại Điều 227, Điều 233 và Điều 335 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
{4}. Về yêu cầu của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:
Căn cứ vào Đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng ngày 20/3/2015 của ông H có nội dung: “…ông H có nguyện vọng vay số tiền 50.000.000 đồng từ Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên N…”
Căn cứ vào phần phê duyệt của VPB FC có nội dung: “…số tiền được phê duyệt là 52.750.000 đồng (trong đó khoản vay tiêu dùng 50.000.000 đồng, phí bảo hiểm 2.750.000 đồng), thời hạn vay là 15 tháng tính từ ngày 19/3/2015, khoản trả hàng tháng 4.393.000 đồng, lãi suất vay 35.00/năm…”; như vậy việc vay nợ giữa Công ty và ông H là có thật, sự thỏa thuận các nội dung của đương sự được ghi trong hợp đồng không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội.
Thực hiện hợp đồng vay ông H đã thanh toán cho Công ty được 04 lần với tổng số tiền đã trả là 17.572.000 đồng và ngưng không thực hiện kể từ ngày 24/7/2015 cho đến nay. Do đó lỗi vi phạp hợp đồng vay thuộc về ông H, kéo dài thời gian trả nợ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Căn cứ vào các Điều 471, Điều 474 và Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005 thì việc đòi nợ của Công ty là có căn cứ.
Từ những nhận định và phân tích nêu trên. Hội đồng xét xử, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
{5}. Về án phí dân sự sơ thẩm: 2.415.350 đồng ông Vũ Thanh H phải chịu; Hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Khoản 1 Điều 273 và Khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Áp dụng Điều 305, Điều 471 và Điều 476 của Bộ luật Dân sự năm 2005.
Áp dụng Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên N.
Buộc ông Vũ Thanh H phải có trách nhiệm thanh toán cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên N số tiền nợ còn thiếu chưa thanh toán là 48.307.000 (bốn mươi tám triệu ba trăm lẻ bảy nghìn) đồng.
Kể từ ngày bản án, có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: 2.415.350 (Hai triệu bốn trăm mười lăm nghìn ba trăm năm mươi) đồng ông Vũ Thanh H phải chịu; hoàn trả lại cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên N số tiền 1.207.675 (Một triệu hai trăm lẽ bảy nghìn sáu trăm bảy mươi lăm) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2017/0037377 ngày 25/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
3.1. Quyền kháng cáo, Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên N; ông Vũ Thanh H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
3.2. Quyền kháng nghị, Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày tuyên án.
4. Quyền yêu cầu Thi hành án: “Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải Thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP. HCM; (1) - Viện kiểm sát nhân dân TP. HCM; (1) - Viện kiểm sát nhân dân Q.Thủ Đức; (1) - CC Thi hành án dân sự Q. Thủ Đức; (1) - Các đương sự; (2) - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP. (3) | TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Công Tình |