- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn K, Nguyễn Phương A phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sun…"
- Tòa quyết gì? * Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn K, Nguyễn Phương A phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 201/2024/HS-ST Ngày: 26-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Tiến Khoa.
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Tiến Phúc- Bí thư Đoàn thanh
niên phường Mộ Lao, quận Hà Đông, thành
phố Hà Nội.
- Ông Nguyễn Cao Biền- Nguyên Phó Chánh
Thanh tra Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh – Thư ký Toà án nhân nhân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Hương- Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 125/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 166/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Văn K, sinh ngày 11/9/2006 tại thành phố Hà Nội (phạm tội khi 17 tuổi 5 tháng 24 ngày); tên gọi khác: không; giới tính: Nam; HKTT và nơi ở: Tổ B, phường P, quận H, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo, đảng phái: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; con ông Nguyễn Văn H (sinh năm 1983) và bà Nguyễn Thị X (sinh năm 1987); anh, chị, em ruột: Gia đình có 02 người, bị cáo là thứ nhất; chung sống như vợ chồng với Nguyễn Phương A và 01 con sinh năm 2023; danh chỉ bản số 000000200 lập ngày 17/3/2024 tại Công an quận H; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị b t quả tang ngày 06/3/2024; tạm gi , tạm giam t ngày 07/3/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố H. Có mặt
2. Họ và tên: Nguyễn Phương A, sinh ngày 25/02/2006 tại tỉnh Quảng Bình; tên gọi khác: không; giới tính: N ; HKTT: Thôn N, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở: Tổ B, phường P, quận H, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo, đảng phái: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; con ông Nguyễn Minh Đ (sinh năm 1977) và bà Nguyễn Thị Ánh H1 (sinh năm 1980); anh, chị, em ruột: Gia đình có 02 người, bị cáo là thứ nhất; chung sống như vợ chồng với Nguyễn Văn K và 01 con sinh năm 2023; danh chỉ bản số 000000201 lập ngày 17/3/2024 tại Công an quận H; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị b t quả tang ngày 06/3/2024; tạm gi , tạm giam t ngày 07/3/2024 đến ngày 15/3/2024 được h y tạm gi . Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi kh i nơi cư trú. Có mặt
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn K: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1983 và chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1987; chỗ ở: Tổ B, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. Có mặt
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn K: Bà Vũ Ánh T- Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Ánh H1, sinh năm 1980; HKTT và chỗ ở: Thôn N, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét h i tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:
Nguyễn Văn K (sinh ngày 11/9/2006) và Nguyễn Phương A (sinh ngày 25/2/2006) sinh sống với nhau như vợ chồng tại tổ B, phường P, quận H, thành phố Hà Nội và có 01 con chung sinh ngày 17/10/2023 nhưng chưa đăng ký kết hôn vì chưa đ tuổi.
Khoảng trưa ngày 29/02/2024, khi K c ng với Phương A đang ở nhà, K lên mạng xã hội Facebook thấy tài khoản Anhh Quangg Chill đăng bán tinh d u ma túy nên K nảy sinh ý định mua tinh d u ma túy về bán kiếm lời. K nh n tin đến tài khoản Anhh Q h i mua tinh d u ma túy, người này đồng ý h n K khi nào mua thì liên hệ.
Đến khoảng 18 giờ ngày 06/3/2024, khi K đang ở nhà thì có tài khoản Facebook tên An Trịnh nh n tin đến tài khoản Facebook Nguyên Khôi c a K h i mua 03 (ba) lọ tinh d u ma túy, K báo giá 750.000 đồng, người này đồng ý mua và h n giao dịch tại cổng làng V, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. Tiếp đó, K nh n tin đến tài khoản Anhh Q h i mua 06 (sáu) lọ tinh d u ma túy, tài khoản Anhh Quangg Chill báo giá 800.000 đồng và h n giao dịch tại khu vực cổng trường THCS T, huyện T, thành phố Hà Nội, K đồng ý. Sau đó, K nói với Phương A: Có hách h i mua tinh dầu ma t y đưa tiền đây đ đi mua”, Phương A h i: ao nhiêu tiền”, K trả lời: Tám trăm ngh n”, Phương A đưa tiền cho K. Sau đó, K điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Vision, màu sơn xanh đen đ , BKS: 73K1-256.26 chở Phương A ngồi sau đi đến khu vực cổng trường Trung học cơ sở T để lấy tinh d u ma túy. Đến nơi, K gặp và mua c a 01 người đàn ông không quen biết khoảng 20 tuổi 06 lọ nhựa bên trong chứa tinh d u ma túy với giá 800.000 đồng. K cất 03 lọ n p màu tr ng vào túi qu n bên trái và 03 lọ n p màu đ vào túi qu n bên phải. Sau đó, K điều khiển xe máy chở Phương A đến điểm h n để bán ma túy.
Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 06/3/2024, khi K và Phương A đến trước cửa số nhà A ngõ E, phố V, tổ F, phường P, quận H, thành phố Hà Nội để đợi khách mua tinh d u ma túy thì bị tổ công tác Công an phường P kiểm tra, phát hiện, b t quả tang, thu gi vật chứng (BL 50-57).
Vật chứng thu gi (BL 51-53):
- 06 (sáu) lọ nhựa gồm: 03 (ba) lọ nhựa có n p màu tr ng, kích thước 07x02 cm, trong đó 01 lọ chứa chất l ng màu hồng, 01 lọ chứa chất l ng màu xanh, 01 lọ chứa chất l ng màu tr ng; 03 (ba) lọ nhựa có n p màu đ , trong đó 02 lọ kích thước 5,5x02cm, 01 lọ kích thước 07x02cm, bên trong đều chứa chất l ng màu tr ng (nghi là ma túy);
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu tr ng tím, l p sim số điện thoại 0335886826;
- 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Vision, màu sơn xanh đen đ , BKS: 73K1-256.26, SM: 8059675, SK: 060494.
Ngày 07/03/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H ra Lệnh khám xét khẩn cấp số 350 và tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở c a Nguyễn Văn K và Nguyễn Phương A ở tổ B, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. Kết quả: không phát hiện, thu gi đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án (BL 19-20).
Ngày 07/03/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H ra Quyết định trưng c u giám định đối với 06 (sáu) lọ nhựa chứa chất l ng nghi là ma túy thu gi nêu trên. Tại Bản kết luận giám định số 1913/KL-KTHS ngày 16/3/2024 c a Phòng K1- Công an thành phố H, kết luận:
* Niêm phong hiệu M1 g m:
- Ch t l ng màu h ng bên trong 01 lọ nhựa n p màu tr ng có ma t y loại MDMB-4en-PINACA, th t ch: 10ml;
- Ch t l ng màu anh bên trong 01 lọ nhựa n p màu tr ng có ma t y loại MDMB-4en-PINACA, th t ch: 10ml;
- Ch t l ng màu tr ng bên trong 01 lọ nhựa n p màu tr ng có ma t y loại MDMB-4en-PINACA, th tịch: 10ml;
* Niêm phong hiệu M2 g m:
- Ch t l ng màu tr ng bên trong 0 lọ nhựa n p màu đ đều có ma t y loại MDMB-4en-PINACA, t ng th t ch: 16ml”.
Về nguồn gốc ma túy bị thu gi và đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Văn K: K khai mua c a một người sử dụng tài khoản Facebook tên Anhh Q . Khoảng 18 giờ ngày 06/3/2024 K nhận gói ma túy c a người đàn ông không quen biết khoảng 20 tuổi tại khu vực cổng trường Trung học cơ sở T, huyện T, thanh phố H. Quá trình điều tra, ngoài lời khai c a K, Phương A, không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh; khi nào đ căn cứ xử lý sau theo quy định c a pháp luật.
Đối với đối tượng h i mua ma túy c a K: K chỉ liên hệ với đối tượng này qua Facebook, không biết tên tuổi, địa chỉ, số điện thoại. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu tr ng tím, l p sim số 0335886826: Quá trình điều tra xác định, điện thoại trên là c a Nguyễn Văn K và Nguyễn Phương A sử dụng vào việc phạm tội nên chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông để xử lý theo quy định.
Đối với 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Vision, BKS: 73K1-256.26, SM: 8059675, SK: 060494: Nguyễn Văn K và Nguyễn Phương A khai chiếc xe trên là c a chị Nguyễn Thị Ánh H (m đ Phương A) cho Phương A mượn làm phương tiện đi lại. Kết quả tra cứu xe máy xác định: Ch sở h u chiếc xe trên là Nguyễn Thị Ánh H, sinh năm 1980, HKTT: Thôn N, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Chị H khai xe máy trên là c a chị, cho con gái là Nguyễn Phương A mượn làm phương tiện đi lại, chị không biết việc Phương A sử dụng xe vào việc phạm tội. Xe máy trên không n m trong cơ sở d liệu xe vật chứng, chị H có đơn xin lại tài sản. Ngày 26/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H ra Quyết định xử lý vật chứng số 2688/QĐ-QCSMT b ng hình thức trao trả lại 01 xe máy trên cho chị Nguyễn Thị Ánh H.
Trước cơ quan điều tra, Nguyễn Văn K và Nguyễn Phương A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội c a mình, lời khai c a các bị cáo ph hợp với nhau, ph hợp với lời khai người người chứng kiến, người có quyền lợi ngh a vụ liên quan, vật chứng đã thu gi , kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án
Tại Cáo trạng số 1124/CT-VKS-HĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội truy tố Nguyễn Văn Khôi, Nguyễn Phương Anh về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 c a Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng c a Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội truy tố, không kêu oan và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nh hình phạt.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội sau khi luận tội vẫn gi nguyên nội dung truy tố đối với các bị cáo và đề nghị:
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 90; Điều 91; Điều 98; Điều 101 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Văn K t 18 tháng - 24 tháng t . Thời hạn t tính t ngày 06/3/2024.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Phương A t 24 tháng - 27 tháng t . Thời hạn t tính t ngày b t thi hành án
Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu h y 02 (hai) phong bì C niêm phong dán kín, các mép dán có ch ký c a đối tượng Nguyễn Văn K, Nguyễn Phương A, cán bộ Công an quận H – Lê Minh Đ và Giám định viên
Tịch thu sung công 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu tr ng tím, l p sim số 0335886862.
* Người bào ch a cho bị cáo Nguyễn Văn K trình bày quan điểm bào ch a: Nhất trí về điều luật, tội danh và các tình tiết giảm nh mà Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội đề xuất. Bị cáo K phạm tội khi chưa đ tuổi thành niên nên nhận thức pháp luật và xã hội còn hạn chế. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo nhận thức được hành vi sai trái nên đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; ma túy bị thu gi kịp thời nên chưa bị phát tán ra ngoài gây nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án thấp hơn mức án mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông đề xuất.
Bị cáo K và người đại diện hợp pháp c a bị cáo K nhất trí với quan điểm c a người bào ch a, đề nghị cho các bị cáo được hưởng lượng khoan hồng c a pháp luật.
Chị Nguyễn Thị Ánh H là người có quyền lợi ngh a vụ liên quan xác nhận đã được nhận lại chiếc xe máy máy nhãn hiệu Honda Vision, BKS: 73K1-256.26, SM: 8059675, SK: 060494, và không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
* Về hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan Cảnh sát Điều tra và điều tra viên - Công an quận Hà Đông, thành phố Hà Nội; c a Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, th tục quy định c a Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định c a Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
* Về hành vi c a các bị cáo:
Lời khai nhận c a bị cáo tại phiên tòa ph hợp với lời khai c a bị cáo tại cơ quan điều tra, ph hợp với biên bản b t người phạm tội quả tang, vật chứng thu gi , kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên có căn cứ xác định: Ngày 06/3/2024 tại khu vực trước cửa số nhà A ngõ E, phố V, tổ F, phường P, quận H, thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn K và Nguyễn Phương A có hành vi mua, cất giấu để bán trái phép 46ml MDMB-4en-PINACA ma túy để bán nhưng chưa kịp bán thì bị Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận H phối hợp với Công an phường P kiểm tra phát hiện b t quả tang c ng, vật chứng.
Vì vậy, cáo trạng c a Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Khôi, Nguyễn Phương A về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Hành vi c a các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền c a nhà nước về quản lý các chất ma túy là chất gây nghiện làm h y hoại sức kh e và nhân cách con người, t đó làm phát sinh ra nhiều tội phạm khác, gây mất trật tự trị an an toàn xã hội. Nhưng vì hám lợi và coi thường pháp luật nên các bị cáo vẫn lao vào con đường phạm tội. Vì vậy c n phải có mức hình phạt t nghiêm kh c cân xứng với hành vi phạm tội c a t ng bị cáo để giáo dục cải tạo các bị cáo và đấu tranh phòng ng a chung.
Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ rõ ràng. K là người khởi xướng r Phương A mua ma túy để bán kiếm lời, Phương A là người đưa tiền cho K và cùng K đi mua ma túy nên hình phạt c a K sẽ cao hơn Phương A.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xét tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân chưa tiền án tiền sự, l n đ u phạm tội; khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo K chưa đ 18 tuổi, bị cáo Phương A mới 18 tuổi 10 ngày có trình độ văn hóa chưa học hết lớp 12 và tuổi đời còn tr , nên tâm lý các bị cáo chưa ổn định, nhận thức về P còn hạn chế; hiện bị cáo Phương A đang nuôi con nh dưới 03 tuổi; nên Hội đồng xét xử giảm một ph n hình phạt tương ứng với các tình tiết giảm nh c a t ng bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
* Về nội dung khác:
Về nguồn gốc ma túy bị thu gi và đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Văn K: K khai mua c a một người sử dụng tài khoản Facebook tên Anhh Q . Khoảng 18 giờ ngày 06/3/2024 K nhận gói ma túy c a người đàn ông không quen biết khoảng 20 tuổi tại khu vực cổng trường Trung học cơ sở T, huyện T, thanh phố H. Quá trình điều tra, ngoài lời khai c a K, Phương A, không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh; khi nào đ căn cứ xử lý sau theo quy định c a pháp luật.
Đối với đối tượng h i mua ma túy c a K: K chỉ liên hệ với đối tượng này qua Facebook, không biết tên tuổi, địa chỉ, số điện thoại. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Đối với 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Vision, BKS: 73K1-256.26, SM: 8059675, SK: 060494: Nguyễn Văn K và Nguyễn Phương A khai chiếc xe trên là c a chị Nguyễn Thị Ánh H (m đ Phương A) cho Phương A mượn làm phương tiện đi lại. Kết quả tra cứu xe máy xác định: Ch sở h u chiếc xe trên là Nguyễn Thị Ánh H, sinh năm 1980, HKTT: Thôn N, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Chị H khai xe máy trên là c a chị, cho con gái là Nguyễn Phương A mượn làm phương tiện đi lại, chị không biết việc Phương A sử dụng xe vào việc phạm tội. Xe máy trên không n m trong cơ sở d liệu xe vật chứng, chị H có đơn xin lại tài sản. Ngày 26/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H ra Quyết định xử lý vật chứng số 2688/QĐ-QCSMT b ng hình thức trao trả lại 01 xe máy trên cho chị Nguyễn Thị Ánh H là ph hợp với quy định c a pháp luật.
* Về xử lý vật chứng:
02 (hai) phong bì C niêm phong dán kín, các mép dán có ch ký c a đối tượng Nguyễn Văn K, Nguyễn Phương A, cán bộ Công an quận H – Lê Minh Đ và Giám định viên. Đây là chất ma túy cấm lưu hành nên tịch thu tiêu h y.
01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu tr ng tím, l p sim số 0335886862 được các bị cáo sử dụng liên lạc thực hiện hành vi mua bán ma túy nên tịch thu sung công.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đại diện hợp pháp và người bào ch a c a bị cáo K, người có quyền lợi ngh a vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định c a pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn K, Nguyễn Phương A phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 90; Điều 91; Điều 98; Điều 101 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Văn K 21 (hai mươi mốt) tháng t . Thời hạn t tính t ngày 06/3/2024.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Phương A 25 (hai mươi lăm) tháng t . Thời hạn t tính t ngày b t thi hành án, được tr thời gian bị tạm gi tạm giam t ngày 06/3/2024 đến ngày 15/3/2024.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu h y 02 (hai) phong bì C niêm phong dán kín, các mép dán có ch ký c a đối tượng Nguyễn Văn K, Nguyễn Phương A, cán bộ Công an quận H – Lê Minh Đ và Giám định viên.
Tịch thu sung công 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu tr ng tím, l p sim số 0335886862.
Các vật chứng nêu trên có tình trạng, đặc điểm theo như Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/5/2024 gi a Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an quận H, thành phố Hà Nội và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
* Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c a Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Các bị cáo Nguyễn Văn K, Nguyễn Phương A, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
* Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Các bị cáo, người đại diện hợp pháp và người bào ch a c a bị cáo K, người có quyền lợi ngh a vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể t ngày tuyên án sơ thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các bị cáo; Người đại diện hợp pháp c a bị cáo; Người bào ch a; - Người có quyền lợi ngh a vụ liên quan; - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND thành phố Hà Nội; - VKSND quận Hà Đông; - Công an quận Hà Đông; - Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông; - Trại tạm giam Công an thành phố Hà Nội - Bộ phận thi hành án hình sự TAND quận Hà Đông; - Lưu Hồ sơ, VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Tiến Khoa |