- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn H - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 201/2023/HS-PT Ngày 14 - 7 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Đức Nam.
Các Thẩm phán: 1. Ông Trần Minh Châu.
2. Ông Ngô Đức Thụ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thăng - Thư ký Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Bà Trần Nguyễn Phương Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 187/HSPT ngày 30 tháng 5
năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình
sự sơ thẩm số 51/2023/HS-ST ngày 12 tháng 4 năm 2023 của Tòa án Nhân dân Quận
12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn H, sinh năm 1976 tại Bình Định; nơi thường trú: xã C, huyện P, tỉnh
Bình Định; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam;
tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn D và bà Phạm Thị L; có vợ và
02 con; tiền án: không; tiền sự: không; tại ngoại, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Ngô Minh Đ, Luật sư của Công ty Luật
TNHH T thuộc đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Vào lúc 22 giờ 25 phút ngày 13 tháng 4 năm 2021, Nguyễn H điều khiển xe
ôtô tải biển số 77C - 168.12 lưu thông trên đường T, hướng từ cầu L về hướng vòng
xoay A. Khi đến vòng xoay A (giao lộ đường Tvà Quốc lộ 1A) gần nhà số 6C-10Bis,
phường H, Quận M, H điều khiển xe ôtô trên chuyển hướng rẽ phải vào đường Quốc
lộ 1A, do không chú ý quan sát đã để đầu xe bên phải của xe ôtô tải biển số 77C – 168.12 va chạm với xe mô tô biển số 54V3-0685 do ông Bùi Văn N điều khiển đang lưu thông phía trước cùng chiều gây tai nạn.
Hậu quả làm ông Bùi Văn N bị thương nặng và tử vong ngày 14/4/2021 tại
Bệnh viện Thống Nhất; xe mô tô biển số 54V3-0685 bị hư hỏng nhẹ.
Căn cứ vào sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường xác định:
Nơi xảy ra tai nạn là khu vực vòng xoay A, giao nhau giữa đường Tvà Quốc lộ
1A, mặt đường nơi xảy ra tai nạn được tráng nhựa bằng phẳng, địa điểm tai nạn là góc giao lộ từ đường T ra đường Quốc lộ 1A, mặt đường rộng 18m60 (BL: 05-08).
Kết luận giám định pháp y tử thi số 2483-21/PC09(PY) ngày 26/5/2021 của
Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh đối với tử thi Bùi Văn N xác định: “Nguyên nhân chết: Bùi Văn N chấn thương bụng kín. Trong máu tìm thấy cồn, nồng độ 33mg/100ml. Trong máu không tìm thấy ma túy. Giải thích cơ chế hình thành dấu vết thương tích trên nạn nhân: Các tổn thương bên ngoài trên người nạn nhân là do va chạm, tiếp xúc trực tiếp với vật tày gây ra” (BL: 31-37).
Kết luận giám định số 2455/C09B ngày 04/6/2021 của Phân viện khoa học
hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh - Viện Khoa học hình sự đối với dấu vết va chạm giữa xe ô tô biển số 77C-168.12 và xe mô tô biển số 54V3-0685 xác định:
“- Dấu vết bên phải phía trước xe ô tô biển số 77C-168.12 (trượt xước, mất sơn
màu vàng, mắt decal màu trắng thanh kim loại ốp tản nhiệt; trượt xước, nứt vỡ, bám chất màu vàng góc dưới bên phải biển số; trượt xước mất sơn màu trắng ốp cản trước) có chiều từ trước về sau, từ phải sang trái, từ dưới lên trên phù hợp với dấu vết phía sau xe mô tô biển số 54V3-0685 (trượt xước, bám chất màu vàng và màu trắng các chi tiết bên phải phía sau thanh kim loại bảo vệ cụm đèn tín hiệu, mặt dưới ốp đèn tín hiệu, mặt ngoài biển số) có chiều từ sau về trước, từ trái sang phải khi xe mô tô biển số 54V3-0685 đang chuyển động bình thường. Đây là vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện.
- Dấu vết phía trước bên phải xe ô tô biển số 77C-168.12 (trượt xước mặt dưới
đầu ốp cản trước; trượt xước mất bụi bẩn, rách mặt lăn và má ngoài bên phải bánh trước, có chiều từ mặt lăn vào tâm, ngược chiều quay tiến bánh xe) có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết trượt xước sạch bụi bẩn, in đường kẻ sọc dạng vân lốp; gãy vỡ các chi tiết bên phải xe mô tô biển số 54V3-0685 (thanh kim loại bảo vệ hông xe, bánh sau, ống bộ, để chân sau, ốp hông, ốp sản để chân trước, yếm chắn gió, ốp cụm đèn chiếu sáng, tay cầm lái) có chiều từ phải sang trái, từ sau về trước, khi xe mô tô biển số 54V3-0685 đã ngã trải xuống mặt đường.
- Dấu vết trượt xước các chi tiết bên trái xe mô tô biển số 54V3-0685 (cần
gương chiếu hậu, ốp nhựa đầu xe, yếm chắn gió, tay cầm lái, tay phanh, để chân sau, cần khởi động, chân chống, lốc máy, thanh kim loại bảo vệ hông xe, tay nâng sau yên) có chiều từ trước về sau phù hợp va chạm với mặt đường.
- Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe ô tô biển số 77C-168.12 và xe mô tô biển số
54V3-0685 chiếu xuống mặt đường nằm phía trước vết trượt xước (ký hiệu 3).
- Khi xảy ra tai nạn giao thông, xe ô tô biển số 77C-168.12 chuyển động trên
đường T hướng từ cầu L đi vòng xoay A và đang chuyển hướng sang phải vào Quốc
lộ 1; xe mô tô biển số 54V3-0685 lưu thông phía trước đầu xe ô tô biển số 77C-
168.12.
- Tại thời điểm xảy ra va chạm xe ô tô biển số 77C-168.12 chuyển động nhanh
hơn so với xe mô tô biển số 54V3-0685.
- Bánh bên phải trục 1 xe ô tô biển số 77C-168.12 phù hợp chèn lên người nạn
nhân Bùi Văn N. Vết trượt xước (ký hiệu 03) được ghi nhận trong Sơ đồ hiện trường
phù hợp do các chi tiết bên trái xe mô tô biển số 54V3-0685 ngã xuống tạo nên.
- Vết chà (ký hiệu 04) phù hợp do bánh bên phải trục 1 xe ô tô biển số 77C
168.12 chèn lên người nạn nhân Bùi Văn N tạo nên.
Không đủ cơ sở xác định độ nghiêng, độ lệch của xe và các bánh xe khi các
phương tiện, đồ vật va chạm với nhau.” (BL: 38-39).
Kết luận giám định số 2405/C09B ngày 29/4/2021 của Phân viện Khoa học
hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, Viện Khoa học hình sự đối với xe ô tô biển số
77C-168.12 xác định:
“Tại thời điểm tham gia tai nạn giao thông, hệ thống lái của xe ô tô biển số
77C-168.12 có hiệu lực, không bị hư hỏng do sự cố kỹ thuật.
Tại thời điểm tham gia tai nạn giao thông, hệ thống phanh của xe ô tô biển số
77C-168.12 có hiệu lực, không bị hư hỏng do sự cố kỹ thuật.
Tại thời điểm tham gia tai nạn giao thông, ly hợp và hộp số xe ô tô biển số
77C-168.12 hoạt động bình thường, không bị hư hỏng do sự cố kỹ thuật.” (BL: 40).
Kết luận giám định số 2697/C09B ngày 24/5/2021 của Phân viện Khoa học
hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, Viện Khoa học hình sự đối với xe mô tô biển số
54V3-0685 xác định số khung, số máy xe mô tô trên không thay đổi (BL: 41).
Kết luận định giá tài sản số 170/KL-HĐ-ĐGTS ngày 23/6/2021 của Hội đồng
định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận 12 kết luận: xe mô tô
biển số 54V3-0685 có tổng giá trị thiệt hại là 1.584.000 đồng (BL: 42-46).
Phiếu kết quả xét nghiệm ngày 14/4/2021 của Bệnh viện Quận 12 xác định:
Nồng độ cồn trong máu là Negative 0.74 mmol/L, chỉ số bình thường là <10.9
mmol/L. Nguyễn H trình bày không sử dụng rượu bia hoặc đồ uống có cồn khác
trước khi tham gia giao thông (BL: 09-10, 167-169).
Nguyên nhân gây ra vụ tai nạn giao thông nói trên là:
Nguyễn H điều khiển xe ôtô biển số 77C – 168.12 chuyển hướng thiếu chú ý
quan sát, gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông, đã để phương tiện va chạm
vào xe mô tô biển số 54V3-0685 do ông Bùi Văn N điều khiển đang lưu thông phía
trước cùng chiều dẫn đến tai nạn. Hành vi này đã vi phạm quy định tại khoản 2 Điều
15 Luật Giao thông đường bộ Việt Nam (lỗi hoàn toàn).
Đối với Bùi Văn N điều khiển xe mô tô biển số 54V3-0685 lưu thông đúng làn
đường quy định (không có lỗi).
Vật chứng và xử lý vật chứng:
- 01 CD chứa video ghi âm, ghi hình có âm thanh khi hỏi cung, 01 CD chứa
video ghi nhận diễn biến vụ tai nạn (đã đính kèm hồ sơ vụ án);
- 01 xe ô tô tải biển số 77C-168.12; 01 xe mô tô biển số 54V3-0685 và 01 Giấy
phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Bùi Văn N. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 12 đã trả lại xe và Giấy phép lái xe cho chủ sở hữu và đại diện gia đình bị hại.
Về phần dân sự: Nguyễn H và ông Hồ Anh T đã bồi thường cho gia đình ông
Bùi Văn N số tiền 150.000.000 đồng. Gia đình ông N đã nhận đủ số tiền bồi thường trên, không yêu cầu bồi thường gì khác và viết giấy đề nghị miễn trách nhiệm hình sự đối với H (BL: 76-77).
Tại bản Cáo trạng số: 128/CT-VKS ngày 16 tháng 8 năm 2022 của Viện kiểm
sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2023/HS-ST ngày 12 tháng 4 năm 2023 của
Tòa án Nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật
hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn H 01 (một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham
gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền
kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 17 tháng 4 năm 2023 bị cáo Nguyễn H kháng
cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn H khai nhận hành vi phạm tội phù
hợp với nội dung bản án sơ thẩm đã nêu và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan
điểm giải quyết vụ án: sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhận định án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo Nguyễn H là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo có nộp đơn xác nhận gia đình có hoàn cảnh khó khăn, nộp tài liệu chứng minh là người đang thờ cúng liệt sĩ đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới; bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, do đó đủ điều kiện được áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, kháng cáo của bị cáo là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: thống nhất với quan điểm giải quyết vụ
án của Kiểm sát viên. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xét cho bị cáo có nhiều tình
tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, t khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà
cho bị cáo hưởng mức hình phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ.
Bị cáo đồng ý với luận cứ bào chữa của luật sư, không tranh luận bổ sung
nhưng xin được hưởng án treo.
Kiểm sát viên đối đáp: việc luật sư đề nghị áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ
luật Hình sự cho bị cáo trong vụ án này là không có căn cứ. Do đó, kiểm sát viên bảo
lưu quan điểm giải quyết vụ án.
Bị cáo nói lời sau cùng xin khoan hồng được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Vào lúc 22 giờ 25 phút ngày 13 tháng 4 năm 2021, bị cáo Nguyễn H điều
khiển xe ôtô tải biển số 77C - 168.12 lưu thông trên đường T, hướng từ cầu L về
hướng vòng xoay A. Khi đến vòng xoay A (giao lộ đường T và Quốc lộ 1A) gần nhà
số 6C-10 Bis, phường H, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh. Bị cáo H điều khiển xe
ôtô nêu trên chuyển hướng rẽ phải vào đường Quốc lộ 1A do thiếu chú ý quan sát đã
để đầu xe bên phải xe ôtô tải nêu trên va chạm vào xe mô tô biển số 54V3-0685 do
ông Bùi Văn N điều khiển đang lưu thông phía trước cùng chiều gây tai nạn làm bị
hại N bị thương nặng và tử vong ngày 14/4/2021 tại Bệnh viện Thống Nhất. Hành vi
của bị cáo H đã vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ và
có lỗi trong vụ tai nạn giao thông này. Nguyên nhân dẫn đến cái chết của bị hại qua
giám định là: “Bùi Văn N chấn thương bụng kín. Trong máu tìm thấy cồn, nồng độ
33mg/100ml. Trong máu không tìm thấy ma túy. Giải thích cơ chế hình thành dấu vết
thương tích trên nạn nhân: Các tổn thương bên ngoài trên người nạn nhân là do va
chạm, tiếp xúc trực tiếp với vật tày gây ra”. Bị cáo H nhận thức được hành vi của
mình, phạm tội với lỗi vô ý, còn bị hại điều khiển xe mô tô trong máu có nồng độ cồn.
Với hành vi khách quan nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử bị cáo
Nguyễn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định
tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
(thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam
giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm) là đúng người, đúng tội, không
oan sai.
Và khi lượng hình Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự cho bị cáo H như có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; thành
khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện khắc phục xong hậu quả và đã bồi thường
số tiền 150.000.000 đồng cho gia đình bị hại, gia đình bị hại có đơn bãi nại và đề nghị
miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm b điểm s khoản 1 Điều
51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, đã xử phạt bị cáo H mức
án 01 (một) năm tù, trong khung hình phạt.
Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm chưa xét bị hại có vi phạm điều nghiêm cấm
khi tham gia giao thông đường bộ mà trong máu có nồng độ cồn quy định tại khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ, và chưa áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phạm tội lần đầu. Ngoài ra, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo có nộp đơn xác nhận gia đình có hoàn cảnh khó khăn, nộp tài liệu chứng minh là người đang thờ cúng liệt sĩ đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, đều được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo Hạnh không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Cho nên, Tòa án cấp phúc thẩm vận dụng nguyên tắc xử lý quy định tại Điều 3 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là khoan hồng đối với người thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường thiệt hại gây ra, người lần đầu phạm tội và tinh thần quy định tại khoản 3 Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 cho bị cáo.
Với lập luận tại đoạn [1], [2] và theo quy định tại Điều 2 và Điều 3 của
Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Điều 1 của Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, thì bị cáo H đủ điều kiện quy định tại Điều 2 và không thuộc trường hợp không cho hưởng án treo tại Điều 3 của Nghị quyết 02 và Điều 1 của Nghị quyết 01 đều hướng dẫn Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo H, chấp nhận quan điểm của Kiểm sát viên và sửa bản án sơ thẩm theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo không phải chịu heo quy định tại
khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 và
Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Sửa bản án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Nguyễn H 01 (một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham
gia giao thông đường bộ”. Nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn H cho Ủy ban nhân dân xã Cát Trinh, huyện Phù Cát, tỉnh
Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ
02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp
hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
Bị cáo không phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TC; (1) - TAND Cấp cao tại Tp.HCM; (1) - VKSND Tp.HCM; (3) - VKSND Quận 12; (1) - THA-DS Quận 12; (1) - TAND Quận 12; (2) - Công an Quận 12; (1) - Phòng PC 53 - CA Tp. HCM; (2) - Bị cáo; (1) - Sở Tư pháp; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (1) - Lưu, hình sự, hồ sơ. (20) (4) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Đức Nam |