vanban.org

Bản án 201/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 - Xử ly hôn giữa anh Ngô Thái H và chị Trần Nguyễn Ngọc A.

2 - Án phí dân sự sơ thẩm anh Ngô Thái H phải nộp 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh H đã nộp theo biên lai số 0001048 ngày 10/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghĩa Hưng, anh H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "V/v ly hôn giữa anh H và chị Ngọc A"
  • Tòa quyết gì? 1 - Xử ly hôn giữa anh Ngô Thái H và chị Trần Nguyễn Ngọc A.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHĨA HƯNG
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 201/2023/HNGĐ - ST
Ngày: 29 - 12- 2023.
V/v ly hôn giữa anh H và chị Ngọc A

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Chủng.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Đức Chạc.

2. Ông Vũ Mạnh Toàn.

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Tuấn Tú – Thư ký Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng tham gia phiên tòa: Ông Trần Thế Hùng – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 140/2023/TLST - HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2023. Về tranh chấp xin ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số: 41/2023/QĐST- HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Anh Ngô Thái H – Sinh năm 1995. Địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn L, huyện N, tỉnh Nam Định.

+ Bị đơn: Chị Trần Nguyễn Ngọc A – Sinh năm 1997. Địa chỉ: Xóm A N, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa vắng mặt anh H, chị Ngọc A.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại phiên toà hôm nay anh Ngô Thái H vắng mặt nhưng anh H có đơn xin không tiến hành hòa giải và đơn xin xét xử vắng mặt. Trong đơn khởi kiện lập ngày 04/10/2023 cũng như lời khai anh Ngô Thái H tại những buổi làm việc với Toà án thể hiện: Anh kết hôn với chị Trần Nguyễn Ngọc A vào tháng 02/2023 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn L, huyện N, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hoà thuận hạnh phúc được một thời gian ngắn thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Đến tháng 6/2023 thì vợ chồng anh sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay anh xác định tình cảm giữa anh và chị Ngọc A không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng xem xét giải quyết cho anh được ly hôn với chị Trần Nguyễn Ngọc A.

Về con chung: Giữa anh và chị Ngọc A không có con chung.

Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về án phí: Anh đề nghị giải quyết theo quy định.

Tại phiên toà hôm nay chị Trần Nguyễn Ngọc A không có mặt. Lời khai của ông Nguyễn Vũ P (là bố của chị Trần Nguyễn Ngọc A) tại các buổi làm việc với Tòa án trình bày đúng như lời khai của anh Ngô Thái H về quá trình kết hôn chung sống giữa anh H và chị Ngọc A. Sau khi kết hôn vợ chồng anh H chị Ngọc A chung sống hoà thuận hạnh phúc được một thời gian ngắn thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là vợ chồng bất đồng về quan điểm không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Vợ chồng chị Ngọc A anh H ly thân từ tháng 6/2023 cho đến nay. Do chị Ngọc A không có mặt để nhận trực tiếp các tài liệu, nên gia đình đã nhận thay và đã thông báo cho chị Ngọc A đầy đủ. Mặt khác do chị Ngọc A phải đi làm không thể đến tòa để làm việc được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt chị và chị có nhờ gia đình chuyển quan điểm của chị về việc giải quyết vụ án như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Ngô Thái H xin ly hôn chị thì chị nhất trí ly hôn.

Về con chung giữa: Giữa chị và anh H không có con chung.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

+ Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến xét xử tại phiên toà hôm nay Thẩm phán thụ lý giải quyết cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q: Xử ly hôn giữa anh Ngô Thái H và chị Trần Nguyễn Ngọc A; Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh H phải nộp theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Trần Nguyễn Ngọc A cư trú tại huyện N. Nay anh Ngô Thái H xin ly hôn chị Trần Nguyễn Ngọc A thì Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Tại phiên tòa hôm nay anh Ngô Thái H và chị Trần Nguyễn Ngọc A vắng mặt nhưng anh H có đơn xin xét xử vắng mặt và chị Ngọc A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H và chị Ngọc A là phù hợp với Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa anh Ngô Thái H và chị Trần Nguyễn Ngọc A vào tháng 02 năm 2023 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn L, huyện N, tỉnh Nam Định là một hôn nhân tự do, tiến bộ và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân. Đến tháng 6/2023 thì vợ chồng anh H chị Ngọc A sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay anh H xác định tình cảm giữa anh và chị Ngọc A không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh đề nghị xin được ly hôn với chị Trần Nguyễn Ngọc A. Phía chị Ngọc A cũng nhất trí ly hôn. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng tham gia phiên tòa có quan điểm xử ly hôn giữa anh H và chị Ngọc A.

Hội đồng xét xử thấy: Trên thực tế mâu thuẫn giữa anh H và chị Ngọc A đã kéo dài và ngày một trầm trọng, hôn nhân đã tan vỡ. Nay anh H xin ly hôn chị Ngọc A nên chấp nhận là phù hợp.

.

Về con chung: Anh Ngô Thái H và chị Trần Nguyễn Ngọc A đều thống nhất vợ chồng không có con chung.

Về tài sản chung vợ chồng: Anh Ngô Thái H và chị Trần Nguyễn Ngọc A đều thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Ngô Thái H phải nộp theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng là phù hợp.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1 - Xử ly hôn giữa anh Ngô Thái H và chị Trần Nguyễn Ngọc A.

2 - Án phí dân sự sơ thẩm anh Ngô Thái H phải nộp 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh H đã nộp theo biên lai số 0001048 ngày 10/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghĩa Hưng, anh H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Báo cho người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ