- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tuyên bố các bị cáo Đỗ Xuân K, Đoàn Minh T1, Đặng Quang H, Đoàn Xuân T2 phạm tội “Đánh bạc”. - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Đỗ Xuân K, Đoàn Minh T1, Đặng Quang H, Đoàn Xuân T2 phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 201/2022/HSST Ngày : 12/12/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Huỳnh Hoàng Phương;
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Trần Công Trung;
2/ Ông Lê Ngọc Thanh;
Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Tường Vi là Thư ký Tòa án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Trần Ngọc Hà là Kiểm sát viên;
Hôm nay, ngày 12 tháng 12 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 114/2022/HSST ngày 10 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 274/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2022 đối với các bị cáo:
1/ Họ và tên: Đỗ Xuân K; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1976 tại: tỉnh Thanh Hóa; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở: đường V, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Đỗ Xuân K, sinh năm: 1959 và bà: Vũ Thị B, sinh năm: 1961; Vợ: Trần Thị L, sinh năm: 1986; Con: Có 02 người, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không; Bị can bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/5/2022;
2/ Họ và tên: Đoàn Minh T1; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1969 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: đường T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: đường T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Thợ mộc; Con ông Đoàn H (đã chết) và bà: Đặng Thị N, sinh năm: 1932; Vợ: Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1981; Con: 02 người, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không; Bị can bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/5/2022;
3/ Họ và tên: Đặng Quang H; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1985 tại: tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 5, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở: đường S, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Đặng Quang B, sinh năm: 1954 và bà Lê Thị C, sinh năm: 1958; Vợ: Lê Thị H, sinh năm: 1989; Con: 02 người, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2016; Nhân thân: Ngày 30/11/2017 bị Công an xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc; ngày 15/5/2019 bị Công an xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc; Tiền án, tiền sự: Không; Bị can bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/5/2022;
4/ Họ và tên: Đoàn Xuân T2; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1985 tại tỉnh Thái Bình; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình; Chỗ ở: đường S, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Đoàn Thế C, sinh năm: 1961 và bà Phạm Thị Thủy N, sinh năm: 1959; Vợ: Nguyễn Thị N (đã ly hôn); Con: 02 người, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2012; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 27/4/2021 bị Công an phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”
(các bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: bà Nguyễn Thị H1, địa chỉ đường N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
(vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 13/3/2022, Đỗ Xuân K, Đặng Quang H, Đoàn Xuân T2 và H (bạn của T2, chưa rõ lai lịch) đến quán cà phê nhà đường N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh của chị Nguyễn Thị H1 làm chủ để uống cà phê. Tại đây, K rủ T2 và H đánh bài tiến lên (đánh bạc) ăn tiền, cả ba đánh bài được khoảng 10 phút thì Đoàn Minh T1 đến xin tham gia đánh bài cùng. Đến 17 giờ cùng ngày, khi cả bốn đang đánh bạc thì bị Công an phường T kiểm tra thu giữ tại chiếu bạc số tiền 7.950.000 đồng, một (01) bộ bài tây 52 lá, một (01) bàn gỗ, một (01) cái ghế xếp inox, ba (03) cái ghế; thu giữ trong người các con bạc số tiền 40.719.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Đỗ Xuân K, Đặng Quang H, Đoàn Xuân T2 và Đoàn Minh T1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Cách thức 04 bị can đánh bài tiến lên ăn tiền như sau: Sử dụng bài tây 52 lá, được chia đều cho 04 người chơi, mỗi người 13 lá bài. Người chơi nào đánh hết lá bài của mình trước tiên là người thắng nhất, ăn người thua thứ tư (chót) số tiền 40.000 đồng, người thắng nhì ăn người thua thứ ba số tiền 20.000 đồng.
Đỗ Xuân K khai nhận: Đây là lần đầu K tham gia đánh bạc, K sử dụng số tiền 3.350.000 đồng để đánh bạc và ăn được 100.000 đồng, tổng số tiền thu giữ tại chiếu bạc là 3.450.000 đồng. Ngoài ra thu giữ trên người K số tiền 3.023.000 đồng dùng để trả tiền thuê nhà.
Đoàn Minh T1 khai nhận: Đây là lần đầu T1 tham gia đánh bạc. Sau đi tiệc về quán cà phê thấy Đỗ Xuân K, Đặng Quang H, Đoàn Xuân T2 đang đánh bạc, T1 xin tham gia, T1 sử dụng số tiền 1.600.000 đồng để đánh bạc và ăn được 900.000 đồng, tổng số tiền thu giữ tại chiếu bạc là 2.500.000 đồng. Ngoài ra còn thu giữ trên người T1 số tiền 11.150.000 đồng dùng để trả tiền thuê mặt bằng.
Đặng Quang H khai nhận: Đây là lần đầu H tham gia đánh bạc tại địa chỉ đường N, phường T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh, H sử dụng số tiền 510.000 đồng dùng để đánh bạc và thua mất 360.000 đồng, khi bị bắt thu giữ số tiền 150.000 đồng để tại chiếu bạc. Thu giữ trên người H số tiền 46.000 đồng dùng để trả tiền ăn uống.
Đoàn Xuân T2 khai nhận: T2 sử dụng số tiền 2.490.000 đồng để đánh bạc và thua mất 640.000 đồng, khi bị bắt thu giữ số tiền 1.850.000 đồng tại chiếu bạc. Thu giữ trên người T2 số tiền 26.500.000 đồng là tiền của Trần Ngọc T (chung sống như vợ chồng với T2) đưa để đi chuyển khoản.
* Vật chứng thu giữ:
- Một (01) bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng;
- Một (01) cái bàn gỗ, ba (03) cái ghế gỗ, một (01) cái ghế xếp Inox bọc bằng vải, các đối tượng sử dụng để đánh bạc;
1. Thu giữ của Đoàn Xuân T2:
- Số tiền 1.850.000 đồng dùng cho việc đánh bạc.
- Số tiền 26.500.000 đồng, qua xác minh: Chị Trần Ngọc T đưa số tiền trên cho T2 để chuyển khoản trả cho anh Đoàn Hải Đ là chủ công ty TNHH dịch vụ G nơi chị Tâm làm việc. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại số tiền 26.500.000 đồng trên cho chị Tâm.
2. Thu giữ của Đoàn Minh T1:
- Số tiền 2.500.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc và 11.150.000 đồng thu giữ trên người T1 dùng để trả tiền thuê mặt bằng.
3. Thu giữ của Đặng Quang H:
- Số tiền 150.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc và 46.000 đồng thu giữ trên người H. H khai không sử dụng số tiền 46.000 đồng để đánh bạc, đây là tiền H để trả tiền ăn uống;
4. Thu giữ của Đỗ Xuân K:
- Số tiền 3.450.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc và 3.023.000 đồng thu giữ trên người K đây là tiền K để đóng tiền thuê nhà.
Các vật chứng trên đã được nhập kho vật chứng thuộc Công an quận T theo Phiếu nhập kho vật chứng số 55/PNK ngày 16/6/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T.
Bản cáo trạng số 105/CT-VKS ngày 06 tháng 10 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân quận T, Tỉnh phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Đỗ Xuân K, Đoàn Minh T1, Đặng Quang H, Đoàn Xuân T2 về tội “Đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 35 xử phạt mỗi bị cáo Đỗ Xuân K, Đoàn Minh T1, Đặng Quang H số tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng, xử phạt bị cáo Đoàn Xuân T2 số tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”, đồng thời đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Các bị cáo Đỗ Xuân K, Đoàn Minh T1, Đặng Quang H, Đoàn Xuân T2 nói lời sau cùng: các bị cáo rất hối hận về việc làm của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để các bị cáo có cơ hội sửa sai, làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của những người liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 17 giờ 00, ngày 13/3/2022 Đỗ Xuân K, Đoàn Minh T1, Đặng Quang H và Đoàn Xuân T2 đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh bài tiến lên ăn tiền tại nhà số đường N, phường T, quận T thì bị bắt giữ cùng tang vật là số tiền 7.950.000 đồng dùng cho đánh bạc. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội danh và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Đối với chị Nguyễn Thị H1 là chủ quán cà phê tại đường N, phường T, quận T; việc các bị can đánh bạc chị H1 không thu tiền xâu, không hưởng lợi từ việc cho đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý.
Đây là vụ án có đồng phạm nhưng hành vi của các bị cáo mang tính tự phát, không có sự phân công rõ ràng nên không thuộc trường hợp “phạm tội có tổ chức”;
Hành vi phạm tội của các bị cáo gây mất trật tự trị an xã hội. Hậu quả của các hành vi nêu trên là nguy hiểm cho xã hội, nó không chỉ xâm hại đến trật tự công cộng ở tại địa phương mà còn ảnh hưởng rất lớn đến tài sản của công dân vì đánh bạc là tệ nạn xã hội, thường là nguyên nhân dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng khác. Các bị cáo là người đã thành niên, đủ khả năng nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật nghiêm cấm và sẽ bị trừng trị nhưng do tham lam, hám lợi nên các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội bất chấp mọi hậu quả kể cả sự trừng trị của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt nghiêm đối với các bị cáo nhằm mục đích cải tạo, giáo dục các bị cáo từ bỏ con đường phạm pháp, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa các tệ nạn trong xã hội, giữ gìn trật tự công cộng, bảo vệ sức khỏe của nhân dân và xây dựng nếp sống văn minh lành mạnh.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có;
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hội đồng xét xử xét thấy đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo;
Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); tuy các bị cáo Đặng Quang H, Đoàn Xuân T2 đã từng bị xử lý hành chính về hành vi “đánh bạc” nhưng tính đến ngày phạm tội mới đã hơn 06 tháng nên căn cứ Nghị quyết số 02/2018/HĐTP-TANDTC thì các bị cáo cũng được xem là có nhân thân tốt, các bị cáo có nơi cư trú ổn định, trong quá trình tại ngoại chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước, không vi phạm pháp luật, các bị cáo đa số đều có con đang còn nhỏ ở độ tuổi đi học do đó nghĩ không cần thiết tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà nghĩ chỉ cần áp dụng Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) phạt các bị cáo một số tiền nhất định cũng đủ tác dụng cải tạo các bị cáo không tiếp tục phạm tội, đồng thời thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội, tạo điều kiện để các bị cáo tiếp tục lao động, rèn luyện bản thân trở thành công dân có ích cho xã hội;
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào Khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì lẽ ra các bị cáo còn có thể bị phạt một khoản tiền bổ sung. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên miễn cho các bị cáo;
Về xử lý vật chứng:
Đối với một (01) bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng; một (01) cái bàn gỗ, ba (03) cái ghế gỗ, một (01) cái ghế xếp Inox bọc bằng vải. Hội đồng xét xử xét thấy đây là các công cụ sử dụng để đánh bạc, hiện không còn giá trị sử dụng, không ai có yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy;
Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 7.950.000 (bảy triệu chín trăm năm mươi ngàn) đồng dùng vào việc đánh bạc;
Trả cho bị cáo Đoàn Minh T1 số tiền 11.150.000 (mười một triệu một trăm năm mươi ngàn) đồng; bị cáo Đặng Quang H số tiền 46.000 (bốn mươi sáu ngàn) đồng; bị cáo Đỗ Xuân K số tiền 3.023.000 (ba triệu không trăm hai mươi ba ngàn) đồng do không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo;
Tình trạng vật chứng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 55/PNK ngày 16/6/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Đỗ Xuân K, Đoàn Minh T1, Đặng Quang H, Đoàn Xuân T2 phạm tội “Đánh bạc”.
* Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo:
Đỗ Xuân K số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng
* Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo:
Đoàn Minh T1 số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng
* Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo:
Đặng Quang H số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng
* Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo:
Đoàn Xuân T2 số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng
Miễn khoản tiền phạt bổ sung cho các bị cáo;
* Áp dụng điểm a, b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tịch thu tiêu hủy một (01) bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng; một (01) cái bàn gỗ, ba (03) cái ghế gỗ, một (01) cái ghế xếp Inox bọc bằng vải;
Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 7.950.000 (bảy triệu chín trăm năm mươi ngàn) đồng dùng vào việc đánh bạc;
Trả cho bị cáo Đoàn Minh T1 số tiền 11.150.000 (mười một triệu một trăm năm mươi ngàn) đồng;
Trả cho bị cáo Đặng Quang H số tiền 46.000 (bốn mươi sáu ngàn) đồng;
Trả cho bị cáo Đỗ Xuân K số tiền 3.023.000 (ba triệu không trăm hai mươi ba ngàn) đồng;
(Tình trạng vật chứng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 55/PNK ngày 16/6/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh).
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo; những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày Tòa án tống đạt, niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các bị cáo; - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; - Công an quận T; - VKSND quận T; - Chi cục THADS quận T; - TAND TP. Hồ Chí Minh; - Phòng PC27 CATP.HCM; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Huỳnh Hoàng Phƣơng |