- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 201/2018/HS-ST Ngày 16-10-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG,TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn MT và bà Vũ Thị Khuôn.
Thư ký Tòa án: Bà Mai Hương Sen – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhiệm - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 10 năm 2018, tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 180/2018/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 202/2018/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:
Đào Văn T, sinh năm 1984 tại Hải Dương. HKTT và trú tại: Thôn TL, thị trấn MT, huyện KM, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn A (đã chết) và bà Trần Thị K; gia đình có 3 anh em bị cáo là con thứ hai; có vợ là Nguyễn Thị Phương H (đã ly hôn); tiền sự: Không; tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 31 ngày 15/5/2013, Tòa án nhân dân huyện KM, tỉnh Hải Dương xử phạt Đào Văn T 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/02/2014, chưa thực hiện nghĩa vụ nộp án phí theo quyết định của bản án); nhân thân: Ngày 26/9/2000 bị Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/6/2018 đến ngày 30/6/2018 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Kim Chi-Công an Hải Dương đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Những người tham gia tố tụng khác:
* Người làm chứng:
+ Anh Chử Hữu Tuấn A, sinh năm 1992; trú tại: 14/207 TM, phường PNL, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương (vắng mặt);
+ Anh Nguyễn Đình C, sinh năm 1976; trú tại: Thôn PT, phường AQ, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tại bản cáo trạng số 191/CT-VKSTPHD ngày 07/9/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương truy tố Đào Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự với căn cứ:
Khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 26/6/2018 tại ngã ba đường AĐ giao với đường THS, thuộc khu 21, phường Nhị Châu, thành phố Hải Dương; Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh Hải Dương phối hợp với công an phường Nhị Châu, thành phố Hải Dương phát hiện bắt quả tang Đào Văn T có hành vi cất giấu trái phép một túi nilon màu trắng kích thước khoảng 04x06cm bên trong chứa hạt tinh thể rắn màu trắng T tự khai là ma túy đá cất giấu để sử dụng cho bản thân. Quá trình bắt, thu giữ túi ma túy của T có sự chứng kiến của anh Chử Hữu Tuấn A ở 14/207 TM, phường PNL, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương và anh Nguyễn Đình C ở thôn PT, phường AQ, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
Tại cơ quan điều tra Đào Văn T khai nhận: Do bản thân nghiện ma túy nên khoảng 15 giờ ngày 26/6/2018, T bắt xe taxi từ thị trấn MT, huyện KM lên khu vực siêu thị BigC - thành phố Hải Dương, gặp và mua của một nam thanh niên không quen biết một túi ma túy đá với giá 3.000.000đ, sau khi mua được ma túy, T cất vào túi quần đang mặc rồi đi bộ trên đường AĐ để bắt xe về nhà thì bị phát hiện bắt giữ.
Tại kết luận giám định số 446/KLGĐ-PC54 ngày 29/6/2018 Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất rắn (dạng tinh thể) mầu trắng niêm phong trong phong bì ghi thu của Đào Văn T, gửi đến giám định có khối lượng là 3,881 gam là loại Methamphetamine. Hoàn trả 3,641 gam Methamphetamine.
Tại phiên tòa, bị cáo Đào Văn T thừa nhận vào khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 26/6/2018 bị cơ quan điều tra công an tỉnh Hải Dương bắt giữ do đã thực hiện hành vi cất giấu trái phép một túi Methamphetamine để sử dụng cho bản thân. Bị cáo nhất trí với kết luận giám định; thể hiện thái độ ăn năn hối cải; công nhận Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng; bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Tranh luận tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa trình bày quan điểm giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố. Trên cơ sở phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả, điều kiện, nguyên nhân phạm tội, nhân thân của bị cáo. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm h (tái phạm) Khoản 1 Điều 52; điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Đào Văn T từ 42 đến 45 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 26/6/2018.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ mẫu vật là Methamphetamine và vỏ bao gói hoàn lại sau giám định.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về chứng cứ xác định bị cáo Đào Văn T có tội và áp dụng pháp luật:
Bị cáo Đào Văn T thừa nhận vào khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 26/6/2018, tại ngã ba đường AĐ giao với đường THS, thuộc khu 21, phường Nhị Châu, thành phố Hải Dương. Đã cố ý thực hiện hành vi cất giấu trái phép một túi Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị cơ quan công an phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, kết luận giám định, biên bản niêm phong vật chứng bị tạm giữ. Các tài liệu, chứng cứ nêu trên phù hợp với các chứng cứ khác như: Bản tự khai của bị cáo, biên bản lấy lời khai bị cáo, biên bản hỏi cung bị cáo, biên bản lấy lời khai của người làm chứng đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Từ những chứng cứ nêu trên, có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; thực hiện hành vi cất giấu trái phép chất ma túy với lỗi cố ý, đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Hành vi tàng trữ trái phép ma túy là loại Methamphetamine có khối lượng 3,881 gam nên bị cáo bị Viện kiểm sát truy tố và bị đưa ra xét xử về tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là đủ căn cứ, đúng người thực hiện hành vi phạm tội và đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 15/5/2013 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện KM, tỉnh Hải Dương xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/02/2014 nhưng chưa thực hiện nghĩa vụ nộp án phí theo quyết định của bản án nên chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội mới do lỗi cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Mặt khác, tại phiên tòa gia đình bị cáo xuất trình tài liệu chứng minh bố bị cáo là thương binh nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy bị cáo là người có nhân thân xấu, phạm tội trong trường hợp tái phạm, số lượng ma túy tàng trữ lớn nên cần thiết buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn thì mới có đủ tác dụng giáo dục bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng Methamphetamine là chất Nhà nước cấm lưu hành, vỏ bao gói không còn giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy
Về án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố; điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về các vấn đề khác: Hành vi bán ma túy cho T của đối tượng nam giới không xác định được; hành vi chở T đến nơi T mua ma túy của người lái xe taxi không xác định được nên cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm của những người này là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm h (tái phạm) Khoản 1 Điều 52; điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c Khoản 2 Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đào Văn T 48 (bốn mươi tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 26/6/2018.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Methamphetanine và vỏ bao gói hoàn trả sau giám định được đựng trong phong bì niêm phong số 446/KLGĐ-PC54.
(Vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/9/2018 giữa cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Hải Dương và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dương).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Đào Văn T phải chịu 200.000đ án phí sơ thẩm hình sự.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đào Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Viện Kiểm sát nhân dân TP Hải Dương; - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương; - Cơ quan CSĐT công an TP Hải Dương; - Cơ quan THAHS công an TP Hải Dương - Trại tạm giam Kim Chi – Công an Hải Dương; - Chi cục THADS thành phố Hải Dương; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Lưu hồ sơ vụ án. - Lưu VP. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Xuân Hiền |