vanban.org

Bản án 201/2018/DSST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V.

Buộc bà Nguyễn Quỳnh N phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền nợ còn thiếu chưa thanh toán là 24.139.000 (Hai mươi bốn triệu một trăm ba mươi chín nghìn) đồng. Kể từ ngày bản án, có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 201/2018/DS-ST
Ngày: 24/4/2018
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Công Tình

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thành Vinh

2. Bà Nguyễn Thị Quý

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hoa, là Thư ký Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Võ Cao Hùng – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 404/2017/TLST-DS ngày 04 tháng 10 năm 2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2018/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 3 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 86/2018/QĐST-DS ngày 29 tháng 3 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V

Địa chỉ: A, phường B, quận Đ, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Kiều D, sinh năm 1992 – địa chỉ: A đường B, phường C, Quận T - văn bản ủy quyền số 1264/2017/UQ-GĐK-TDTD ngày 18/4/2017 (có mặt).

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Quỳnh N, sinh năm 1991.

Địa chỉ: A đường A, khu phố C, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/4/2017, trong quá trình giải quyết vụ án và tại tòa nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V có đại diện theo ủy quyền bà Nguyễn Thị Kiều D trình bày:

Vào ngày 21/02/2013 bà Nguyễn Quỳnh N và Ngân hàng thương mại cổ phần V ký với nhau hợp đồng tín dụng số 20130223-500000-0009, theo hợp đồng đã ký kết thì Ngân hàng cho bà N vay số tiền là 24.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 2,91%/tháng, mục đích vay là tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận thì bà N có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng số tiền 33.973.000.000 đồng (cả gốc và lãi) trả chậm trong thời hạn 24 tháng, 23 tháng đầu mỗi tháng trả dần số tiền 1.405.000 đồng, tháng cuối cùng trả số tiền còn lại là 1.658.000 đồng, thanh toán vào ngày 01 hàng tháng bắt đầu thực hiện kể từ ngày 01/4/2013.

Thực hiện hợp đồng bà N đã nhận đủ số tiền vay từ Ngân hàng và thực hiện việc thanh toán cho Ngân hàng được 06 lần với tổng số tiền đã trả là 9.834.000 đồng và ngưng không thực hiện kể từ ngày 30/12/2013 cho đến nay, Ngân hàng đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở, nhưng bà N vẫn không thực hiện; vì vậy Ngân hàng làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án xem xét giải quyết:

Buộc bà Nguyễn Quỳnh N phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền nợ còn thiếu chưa thanh toán là 24.139.000 đồng. Ngân hàng không yêu cầu tính thêm lãi suất.

Bị đơn bà Nguyễn Quỳnh N: Từ khi thụ lý hồ sơ vụ án Tòa án nhân dân quận Thủ Đức đã tiến hành triệu tập bà N đến tòa để giải quyết việc kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V nhưng bà N không đến; Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho bà N theo quy định của pháp luật, nhưng bà N vẫn vắng mặt tại tòa mà không có lý do, nên mở phiên tòa xét xử vụ án.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý vụ án, tiến hành thu thập chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và diễn biến tại phiên tòa đã được Tòa án nhân dân quận Thủ Đức và Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án thực hiện đúng quy trình thủ tục theo quy định của pháp luật; về thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự, nguyên đơn chấp hành các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V.

Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án gồm có: Đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20130223-500000-0009 ngày 25/02/2013; giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, mã số chi nhánh 0100233583-003; giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần, mã số doanh nghiệp 0100233583; văn bản ủy quyền số 18/2017/UQ-CT ngày 13/3/2017; văn bản ủy quyền số 1264/2017/UQ-GĐK-TDTD ngày 18/4/2017; phiếu xác minh ngày 18/5/2015.

Các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh; các nội dung đương sự đã thỏa thuận thống nhất được và không thống nhất được do bà N vắng mặt nên các đương sự không thỏa thuận được việc giải quyết vụ án, cũng như làm rỏ các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

{1}. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn bà Nguyễn Quỳnh N cư trú tại địa chỉ số A đường B, khu phố C, phường T, quận T; nên thẩm quyền giải quyết vụ án này theo trình tự thủ tục sơ thẩm là Tòa án nhân dân quận Thủ Đức; được pháp luật quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

{2}. Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ vào đơn khởi kiện ngày 18/4/2017 và tài liệu, chứng cứ kèm theo của Ngân hàng thương mại cổ phần V, thì vụ án có quan hệ tranh chấp là Tranh chấp về hợp đồng dân sự về hợp đồng vay tài sản được pháp luật quy định tại Khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2005.

{3}. Về thủ tục tố tụng:

{3.1}. Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Kiều D tham gia tố tụng và được Tòa án chấp nhận là phù hợp với quy định tại Điều 85 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

{3.2}. Bị đơn bà Nguyễn Quỳnh N, sau khi thụ lý Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án số 404/TB-TLVA ngày 04/10/2017 cho bà N nhưng hết thời hạn được quy định tại Điều 174 và Điều 175 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 bà N không có ý kiến phản hồi; Tòa án tiếp tục triệu tập và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bà N vào các ngày 05/01/2018 và ngày 07/02/2018, nhưng bà N vẫn vắng mặt tại tòa mà không có lý do chính đáng; Tòa án tiến hành lập biên bản về phiên họp kiểm trả việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ mà không hòa giải và thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc tiếp cận công khai chứng cứ cho bà N biết theo quy định tại Khoản 1 Điều 207, Khoản 2 Điều 208 và Khoản 3 Điều 210 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; đồng thời triệu tập bà N tham gia phiên tòa vào lúc 8 giờ 00 phút, ngày 29/3/2018 nhưng bà N vẫn không đến tòa tham gia xét xử vụ án. Hội đồng xét xử sau khi thảo luận và Quyết định hoãn phiên tòa và mở lại phiên tòa vào ngày hôm nay (24/4/2018), nhưng bà N vẫn vắng mặt tại tòa mà không có lý do chính đáng; nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà N là phù hợp, được pháp luật quy định tại Điều 227, Điều 233 và Điều 335 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

{4}. Về yêu cầu của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

Căn cứ vào Đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20130223-500000-0009 ngày 25/02/2013 có nội dung: Ngân hàng thương mại cổ phần V cho bà N vay số tiền 24.000.000 đồng, thời hạn vay là 24 tháng, lãi suất cho vay 2,91%/tháng; phương thức cho vay trả góp; khoản khách hàng trả hàng tháng là 1.405.000 đồng; ngày thanh toán hàng tháng là ngày 01; như vậy việc vay nợ giữa Ngân hàng và bà N là có thật, sự thỏa thuận các nội dung của đương sự được ghi trong hợp đồng không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội.

Thực hiện hợp đồng vay bà N đã thanh toán cho Ngân hàng được 06 lần với tổng số tiền đã trả là 9.834.000 đồng và ngưng không thực hiện kể từ ngày 30/12/2013 cho đến nay. Do đó lỗi vi phạp hợp đồng vay thuộc về bà N, kéo dài thời gian trả nợ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Căn cứ vào các Điều 471, 474 và Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005 thì việc đòi nợ của Ngân hàng là có căn cứ.

Từ những nhận định và phân tích nêu trên. Hội đồng xét xử, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

{5}. Về án phí dân sự sơ thẩm: 1.206.950 đồng bà Nguyễn Quỳnh N phải chịu; Hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Khoản 1 Điều 273 và Khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng Điều 305, Điều 471 và Điều 476 của Bộ luật Dân sự năm 2005.

Áp dụng Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V.

Buộc bà Nguyễn Quỳnh N phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền nợ còn thiếu chưa thanh toán là 24.139.000 (Hai mươi bốn triệu một trăm ba mươi chín nghìn) đồng.

Kể từ ngày bản án, có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: 1.206.950 đồng (Một triệu hai trăm lẽ sáu nghìn chín trăm năm mươi) đồng bà Nguyễn Quỳnh N phải chịu; hoàn trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền 603.475 (Sáu trăm lẽ ba nghìn bốn trăm bảy mươi lăm) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2016/0002709 ngày 03/5/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

3.1. Quyền kháng cáo, Ngân hàng thương mại cổ phần V có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bà Nguyễn Quỳnh N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

3.2. Quyền kháng nghị, Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày tuyên án.

4. Quyền yêu cầu Thi hành án: “Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải Thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.

Cỡ chữ