- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Thị P+ĐP - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh v hình phạt
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 200/2024/HSST Ngày 24-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: B L Mai Xiên .
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Thanh Tân và b Lườn Thị Thảo.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Mai- Thư ký T a án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện TC tham gia phiên toà: B Bạc Thị Thoản- Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở To án nhân huyện TC, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm côn khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 196/2024/TLST-HS, ngày 06 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 215/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Quàng Thị P, tên ọi khác: Khôn ; sinh năm 1993, tại th nh phố Sơn La, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: bản L, xã C, thành phố SL, tỉnh Sơn La; n hề n hiệp: Lao độn tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Thái; iới t nh: Nữ; tôn iáo: Khôn ; quốc tịch: Việt Nam; con ôn Qu n Văn Minh, sinh năm 1969 và bà Lườn Thị B nh, sinh năm 1968; bị cáo có chồn l N uyễn Văn Đức, sinh năm 1986 (đã ly thân) và 01 con, sinh năm 2017; tiền án: Tại bản án số 67/2020/HSST ngày 12/6/2020 bị Tòa án nhân dân th nh phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 18 (mười tám) tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/7/2021), tại bản án số 20/2021/HSST ngày 06/12/2021 bị Tòa án nhân dân th nh phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 19 (mười chín) tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/01/2023), tiền sự: khôn ; nhân thân: Tại bản án số 54/2014/HSST ngày 31/7/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 32 (ba mươi hai) tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy; bị bắt, tạm iữ, tạm iam ngày 25 tháng 3 năm 2024 đến n y 02 thán 4 năm 2024 bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay. Có mặt.
2. Lường Văn Ph, tên ọi khác: Khôn ; sinh năm 1989, tại huyện TC, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: bản Dân Chủ, xã C, huyện TC, tỉnh Sơn La; n hề n hiệp: Lao độn tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Thái; iới t nh: Nam; tôn iáo: Khôn ; quốc tịch: Việt Nam; con ôn Lườn Văn Chiến, sinh năm 1955 và bà Lườn Thị Piện , sinh năm 1958; bị cáo có vợ là L Thị Nhung, sinh năm 1990 (đã ly thân) và 01 con, sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án số 79/2008/HSST ngày 27/5/2008 bị Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La xử phạt 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, tại bản án số 35/2020/HSST ngày 05/5/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, tại quyết định số 4104/QĐ-UBND ngày 17/8/2012 bị Ủy ban nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La ra quyết định đưa n ười n hiện ma túy vào chữa trị, iáo dục, lao độn tại trun tâm iáo dục lao độn huyện TC, thời ian chữa trị 12 (mười hai) tháng kể từ ngày 20/7/2012; bị bắt, tạm iữ, tạm iam n y 28 tháng 6 năm 2024. Có mặt.
3. Phạm Văn T, tên ọi khác: Khôn ; sinh năm 1990, tại huyện TC, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: bản Liên Minh, xã N, huyện TC, tỉnh Sơn La; n hề n hiệp: Lao độn tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; iới t nh: Nam; tôn iáo: Khôn ; quốc tịch: Việt Nam; con ôn Phạm Văn Pha (đã chết) và bà N uyễn Thị Mỏn, sinh năm 1949; bị cáo có vợ là Bạc Thị P, sinh năm 1991 và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2018, con nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm iữ, tạm iam n y 25 tháng 3 năm 2024. Có mặt.
N ười có quyền lợi n hĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Bạc Thị P, sinh năm 1991; nơi cư trú: bản Liên Minh, xã N, huyện TC, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các t i liệu có tron hồ sơ vụ án v diễn biến tại phiên t a, nội dun vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 iờ 00 phút ngày 25/3/2024, Tổ côn tác Côn an xã C, huyện TC, tỉnh Sơn La l m nhiệm vụ tại khu vực bản Lọn Mén, xã C, huyện TC, phát hiện bắt quả tan Phạm Văn T, Qu n Thị P có h nh vi cất iữ trái phép chất ma túy.
Vật chứn thu iữ:
Thu iữ của Phạm Văn T: 01 (một) ói nilon m u trắn bên tron có chứa chất bột cục m u trắn n hi l Heroine v một nửa viên nén m u hồn n hi l ma túy tổn hợp (theo Phạm Văn T khai là Heroine v ma túy tổn hợp); một chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A32, màn hình cảm ứng, vỏ sau màu xanh dươn ; Một chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave RSX, màu đỏ, BKS 26B1-519.20.
Thu iữ của Qu n Thị P: 01 (một) ói nilon m u trắn bên trong ồm có: một ói nilon nhỏ m u trắn bên tron có chứa chất bột cục m u trắn n hi là Heroine và một ói nilon nhỏ m u hồn bên tron có chứa 08 (tám) viên nén m u hồn n hi l ma túy tổn hợp (theo Qu n Thị P khai là Heroine và ma túy tổn hợp); một chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu NOKIA, loại 105.
Hồi 17 iờ 10 phút, ngày 25/3/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Côn an huyện Thuận Châu đã tiến h nh bóc mở niêm phon , cân tịnh vật chứn v lấy m u iám định thu iữ của các bị cáo Phạm Văn T và Qu n Thị P, kết quả:
Thu iữ của bị cáo Phạm Văn T: Số chất bột cục m u trắn nghi là Heroine trong gói nilon màu trắn có khối lượn 0,20 gam. Trích to n bộ 0,20 gam chất bột cục m u trắn , ký hiệu T1 ửi iám định. Một nửa viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp trong gói nilon màu trắng có khối lượng 0,07gam. Trích to n bộ 0,07 gam viên nén m u hồn , ký hiệu T2 ửi iám định.
Thu iữ của bị cáo Qu n Thị P: Số chất bột cục m u trắn n hi l Heroine trong gói nilon nhỏ màu trắn có khối lượn 1,32 gam. Trích to n bộ 1,32 am chất bột cục m u trắn , ký hiệu P1 ửi iám định. 08 (tám) viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp trong gói nilon nhỏ màu hồng có khối lượng 0,73 gam. Trích 05 (năm) viên nén m u hồn có khối lượn 0,45 am, ký hiệu P2 ửi iám định. C n lại 03 (ba) viên nén m u hồn có khối lượn 0,28 gam, ký hiệu P3.
Nguồn gốc số ma túy thu giữ của các bị cáo Phạm Văn T, Qu n Thị P, các bị cáo đều khai là Lườn Văn Ph, sinh năm 1989 trú tại: bản Dân Chủ, xã C, huyện TC, tỉnh Sơn La đưa cho Qu n Thị P bán với mục đ ch kiếm lời.
Ngày 25/3/2024, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TC ra lệnh giữ n ười trong hợp khẩn cấp, lệnh khám xét khẩn cấp đối với n ười, chỗ ở, đồ vật, thư t n của Lườn Văn Ph tại bản Dân Chủ, xã C, huyện TC, tỉnh Sơn La. Kết quả khám xét: Không thu giữ vật chứng, tài liệu gì. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TC tiến h nh xác minh đối Tợng Lườn Văn Ph khôn có mặt tại địa P. Ngày 15/4/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TC ra quyết định truy tìm số 482/QĐ-CQĐT truy tìm n ười đối với Lườn Văn Ph. Đến ngày 28/6/2024 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TC lập biên bản bắt bị can để tạm iam đối với Lườn Văn Ph và không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Kết luận iám định số: 773/KL- KTHS ngày 27/3/2024 của Ph Kỹ thuật hình sự Côn an tỉnh Sơn La kết luận: M u ửi iám định ký hiệu T1 và P1 là ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học l Diacetylmorphine; khối lượn của m u ửi iám định l T1= 0,20 gam, P1= 1,32 gam. M u ửi iám định ký hiệu T2 v P2 là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượn của m u ửi iám định l T2= 0,07 gam, P2= 0,45 gam. Tổn khối lượn ma túy thu iữ 0,80 gam, loại Methamphetamine và 1,52 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học l Diacetylmorphine. Ho n lại đối Tợn iám định: M u ửi iám định đã sử dụn hết tron quá trình iám định.
Quá trình điều tra v tại phiên t a, các bị cáo Phạm Văn T, Qu n Thị P, Lườn Văn Ph đã khai nhận to n bộ h nh vi phạm tội như sau:
Khoản 10 iờ 20 phút, ngày 25/3/2024, Phạm Văn T ọi điện thoại cho Lườn Văn Ph để hỏi mua ma túy, Ph đồn ý v hẹn T lên lán nươn của nhà Ph tại bản Lọn Mén, xã C, huyện TC để trao đổi mua bán ma túy. Sau đó Phạm Văn T một mình điều khiển xe mô tô BKS 26B1-519.20 đi lên lán nươn của nhà Ph tại bản Lọn Mén, xã C thì ặp Qu n Thị P và Lườn Văn Ph, ngay sau đó Lườn Văn Ph cầm 02 ói ma túy ồm: 01 (một) ói ma túy ói bằn nilon m u trắn to và 01(một) gói ma túy ói bằn nilon m u trắn nhỏ đưa cho Qu n Thị P và nói với Qu n Thị P là bán cho Phạm Văn T 01(một) ói nilon m u trắn nhỏ, ói ma túy c n lại nếu có ai hỏi mua thì bán kiếm lời. P đồn ý v bán 01(một) ói ma túy ói bằn nilon m u trắn nhỏ cho Phạm Văn T với giá 200.000 đồng, P nhận tiền của T rồi đưa cho Lườn Văn Ph, Lườn Văn Ph cầm tiền v bảo P n ồi lại với T, sau đó Ph đi ra ngoài, ói ma túy c n lại P cầm ở l n b n tay phải. Trong lúc T đan chuẩn bị sử dụn ma túy thì bị tổ công tác Công an xã C, huyện Thuận Châu phát hiện, bắt quả tang và thu giữ c n vật chứn đối với Phạm Văn T và Qu n Thị P.
Các bị cáo Qu n Thị P, Lườn Văn Ph khai nhận: Khoảng sau tết âm lịch năm 2024 ( Qu n Thị P, Lườn Văn Ph) khôn nhớ cụ thể n y thán , Quàng Thị P và Lườn Văn Ph bắt xe khách từ nh của Ph ở bản Dân Chủ, xã C, huyện TC, tỉnh Sơn La san huyện Sôn Mã, tỉnh Sơn La với mục đ ch đi tìm mua ma túy để sử dụn và bán kiếm lời. Khi Ph và P đi đến khu vực iáp danh huyện Thuận Châu v huyện Sôn Mã, P và Ph xuốn xe thì ặp v hỏi mua được của một n ười đ n ôn dân tộc Mông (P và Ph không biết tên, tuổi v địa chỉ cư trú cụ thể ở đâu) một gói ma túy gói bằng nilon màu trắng bên trong có chứa Heroine và ma túy tổng hợp với giá 600.000đ. Sau khi mua được ma túy, P và Ph bắt xe đi về nhà.
Tại Cáo trạn số: 151/CT- VKSTC, ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TC truy tố bị cáo Qu n Thị P về tội mua bán trái phép chất ma túy theo điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Lườn Văn Ph về tội mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội T n trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại cơ quan điều tra cũn như tại phiên to , các bị cáo Qu n Thị P, Lườn Văn Ph, Phạm Văn T đã khai nhận to n bộ h nh vi phạm tội của mình đún như nội dun bản cáo trạn của Viện kiểm sát nhân huyện TC đã truy tố v thừa nhận bản cáo trạn truy tố các bị cáo Qu n Thị P, Lườn Văn Ph về tội mua bán trái phép chất ma túy; truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội T n trữ trái phép chất ma túy l đún n ười, đún tội.
Tron phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân huyện TC iữ quyền côn tố tại phiên to trình b y lời luận tội, sau khi phân t ch đánh iá t nh chất, mức độ h nh vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, cũn như qua xem xét các tình tiết tăn nặn , iảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã đề n hị Hội đồn xét xử:
Áp dụn điểm q khoản 2 Điều 251; điểm n, s, t khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Qu n Thị P phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Qu n Thị P từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng t đến 08 (tám) năm tù.
Áp dụn khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lườn Văn Ph phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Lườn Văn Ph từ 04 (bốn) năm t đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.
Áp dụn điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội: T n trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị Phạm Văn T từ 18 (mười tám) tháng tù đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù.
Khôn áp dụn hình phạt bổ sun ( phạt tiền) đối với các bị cáo.
Về vật chứn vụ án: Áp dụn điểm a, b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụn hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 03 viên nén màu hồng là Methamphetamine có khối lượng 0,28 gam, ký hiệu P3; 03 mảnh nilon màu trắng; 01 mảnh nilon màu hồng; 02 vỏ phong bì niêm phong vật chứn ban đầu; 02 vỏ phong bì niêm phong 02 chiếc điện thoại ban đầu.
Tuyên thu nộp n ân sách nh nước: số tiền 200.000 đồng của bị cáo Lườn Văn Ph (là tiền bán ma túy cho bị cáo Phạm Văn T).
Tuyên tịch thu nộp n ân sách nh nước: một chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A32, màn hình cảm ứng, vỏ sau m u xanh dươn thu giữ của bị cáo Phạm Văn T; một chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu NOKIA, loại 105 của bị cáo Lườn Văn Ph.
Tuyên trả một chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave RSX, m u đỏ, BKS 26B1-519.20 cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Bạc Thị P.
Miễn án ph hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lườn Văn Ph.
Buộc các bị cáo Phạm Văn T, Qu n Thị P phải chịu án ph hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên t a, các bị cáo Phạm Văn T, Qu n Thị P, Lườn Văn Ph thừa nhận h nh vi phạm tội v khôn có ý kiến tranh luận ì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề n hị Hội đồn xét xử xem xét iảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
N ười có quyền lợi, n hĩa vụ liên quan đến vụ án có ý kiến: Chị Bạc Thị P xin lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave RSX, m u đỏ, BKS 26B1-519.20 và không yêu cầu gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dun vụ án, căn cứ v o các t i liệu tron hồ sơ vụ án đã được tranh tụn tại phiên t a, Hội đồn xét xử nhận định như sau:
Về h nh vi, quyết định tố tụn của Cơ quan điều tra Côn an huyện TC, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, Kiểm sát viên tron quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đún về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụn hình sự, thực hiện đún thủ tục tố tụn . Quá trình điều tra v tại phiên t a các bị cáo, n ười có quyền lợi, n hĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến khiếu nại về h nh vi, quyết định của Cơ quan tiến h nh tố tụn , n ười tiến h nh tố tụn .
Tại phiên to các bị cáo Phạm Văn T, Qu n Thị P, Lườn Văn Ph khai nhận n y 25/3/2024, Lườn Văn Ph đã có h nh vi đưa 02 ói ma túy cho Qu n Thị P và bảo P bán cho Phạm Văn T 01(một) ma túy gói bằn nilon màu trắn nhỏ, ói ma túy c n lại nếu có ai hỏi mua thì bán kiếm lời. P đồn ý v bán 01(một) ói ma túy ói bằn nilon m u trắn nhỏ cho Phạm Văn T với iá 200.000 đồng, P nhận tiền của T rồi đưa cho Lườn Văn Ph, Lườn Văn Ph cầm tiền rồi đi ra n o i, ói ma túy c n lại P cầm ở l n b n tay phải. Trong lúc T đan chuẩn bị sử dụn ma túy thì bị tổ công tác Công an xã C, huyện Thuận Châu phát hiện, bắt quả tang đối với Phạm Văn T và Quàng Thị P khi T đan cất iữ trái phép 0,20 am chất ma túy (loại Heroine (Heroin), có tên khoa học l Diacetylmorphine và 0,07gam chất ma túy, loại Methamphetamine; P đan cất iữ trái phép 1,32 am chất ma túy (loại Heroine (Heroin), có tên khoa học l Diacetylmorphine và 0,73 gam chất ma túy, loại Methamphetamine.
Bị cáo Lườn Văn Ph thừa nhận ngày 25/3/2024, quá trình khám xét khẩn cấp đối với n ười, chỗ ở, đồ vật, thư t n của bị cáo không thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Tại phiên t a các bị cáo iữ n uyên lời khai tại cơ quan điều tra, khôn bổ sun thêm nội dun ì l m thay đổi nội dun của vụ án, các bị cáo hoàn toàn nhất tr với h nh vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Lời khai nhận tội của các bị cáo ph hợp với nhau, ph hợp kết quả điều tra, ph hợp với: Biên bản bắt n ười phạm tội quả tan ; biên bản bắt n ười bị giữ tron trường hợp khẩn cấp; biên bản niêm phon vật chứn ; biên bản mở niêm phon , xác định khối lượn , lấy m u ửi iám định v niêm phon lại; Biên bản mở niêm phon v iao nhận đối Tợn iám định; Kết luận iám định số: 773/KL- KTHS ngày 27/3/2024 của Ph Kỹ thuật hình sự Côn an tỉnh Sơn La; lời khai của n ười chứn kiến.
Từ các căn cứ nêu trên đã có đủ cơ sở kết luận h nh vi cất iữ trái phép 0,20 am chất ma túy (loại Heroine (Heroin), có tên khoa học l Diacetylmorphine và 0,07gam chất ma túy, loại Methamphetamine với mục đ ch để sử dụn của bị cáo Phạm Văn T đã phạm v o tội T n trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Lườn Văn Ph ngày 25/3/2024, đã có h nh vi đưa 02 ói ma túy cho Qu n Thị P và bảo P bán cho Phạm Văn T 01(một) ma túy gói bằn nilon m u trắn nhỏ, ói ma túy c n lại nếu có ai hỏi mua thì bán kiếm lời. P đồn ý v bán 01(một) ói ma túy ói bằn nilon m u trắn nhỏ cho Phạm Văn T với giá 200.000 đồng, P nhận tiền của T rồi đưa cho Lườn Văn Ph, Lườn Văn Ph cầm tiền rồi đi ra n o i. Do đó, bị cáo Lườn Văn Ph phải chịu trách nhiệm về tổng số lượn ma túy bị thu iữ của bị cáo Qu n Thị P và bị cáo Phạm Văn T, với tổng trọn lượng là: 2,32 gam.
Hành vi nêu trên của bị cáo Lườn Văn Ph đã phạm vào tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Qu n Thị P ngày 25/3/2024, đã có h nh vi nhận 02 gói ma túy của Lườn Văn Ph và bán cho Phạm Văn T 01(một) ma túy gói bằn nilon màu trắn nhỏ với iá 200.000 đồng, P nhận tiền của T rồi đưa cho Lườn Văn Ph, Lườn Văn Ph cầm tiền rồi đi ra n o i, ói ma túy c n lại P cầm ở l n bàn tay phải với mục đ ch có ai hỏi mua thì bán kiếm lời. Do vậy, bị cáo Qu n Thị P phải chịu trách nhiệm về tổng số lượn ma túy bị thu iữ của bị cáo và thu giữ của bị cáo Phạm Văn T, với tổng trọn lượng là: 2,32 gam.
Bị cáo Qu n Thị P: Tại bản án số 67/2020/HSST ngày 12/6/2020 bị Tòa án nhân dân th nh phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 18 (mười tám) tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/7/2021), tại bản án số 20/2021/HSST ngày 06/12/2021 bị Tòa án nhân dân th nh phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 19 (mười chín) tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/01/2023). Đến ngày 25/3/2024 bị cáo Qu n Thị P tiếp tục có hành vi bán trái phép 0,20 am chất ma túy (loại Heroine (Heroin), có tên khoa học l Diacetylmorphine và 0,07gam chất ma túy, loại Methamphetamine cho bị cáo Phạm Văn T và có hành vi cất iữ trái phép 1,32 am chất ma túy (loại Heroine (Heroin), có tên khoa học l Diacetylmorphine và 0,73 gam chất ma túy, loại Methamphetamine tron n ười với mục đ ch để sử dụn và bán kiếm lời. Bị cáo đã tái phạm n uy hiểm chưa được xóa án t ch m lại thực hiện h nh vi phạm tội do cố ý.
Các hành vi nêu trên của bị cáo Qu n Thị P đã phạm vào tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo Lườn Văn Ph, Qu n Thị P rủ nhau đi mua ma túy, trực tiếp trao đổi mua ma túy, cùng bỏ ra số tiền chung là 600.000 đồn để mua ma túy với mục đ ch để sử dụn v bán kiếm lời. Hội đồn xét xử xét thấy các bị cáo Lườn Văn Ph, Qu n Thị P phạm tội với vai tr đồn phạm, do đó cần áp dụn Điều 58 Bộ luật hình sự để xem xét vai tr của các bi cáo.
H nh vi phạm tội của bị cáo Qu n Thị P thuộc trườn hợp rất n hiêm trọn , h nh vi phạm tội của các bị cáo Lườn Văn Ph, Phạm Văn T thuộc trườn hợp n hiêm trọn v n uy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến ch nh sách độc quyền quản lý của Nh nước về chất ma túy, ây mất trật tự an ninh xã hội tại địa P. Bị cáo Qu n Thị P, Lườn Văn Ph mục đ ch mua bán ma túy để hưởng lợi, thu lợi bất chính. Do đó cần có mức hình phạt n hiêm khắc nhằm răn đe iáo dục đối với các bị cáo, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăn nặn , iảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Lườn Văn Ph, Qu n Thị P, Phạm Văn T không có tình tiết tăn nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Lườn Văn Ph: Quá trình điều tra v tại phiên t a th nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Phạm Văn T: Quá trình điều tra v tại phiên t a bị cáo th nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong việc phát hiện tội phạm là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Qu n Thị P: Quá trình điều tra v tại phiên t a bị cáo th nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong việc phát hiện tội phạm, bị cáo là phụ nữ có thai là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm n, s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo Phạm Văn T khôn có tiền án tiền sự. Các bị cáo Qu n Thị P, Lườn Văn Ph đều có nhân thân xấu, bị cáo Qu n Thị P có 02 tiền án chưa được xóa án t ch, 01 tiền án đã được xóa án tích; bị cáo Lườn Văn Ph có 02 tiền án đã được xóa án t ch.
Về hình phạt bổ sun (phạt tiền): Các bị cáo Lườn Văn Ph, Quàng Thị P, Phạm Văn T không có tài sản, khôn có đủ điều kiện và khả năn thi hành hình phạt bổ sung. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sun đối với các bị cáo.
Về n uồn ốc số ma túy bị thu iữ:
Các bị cáo Lườn Văn Ph, Qu n Thị P, Phạm Văn T đều thừa nhận số ma túy thu iữ của bị cáo Phạm Văn T l ma túy của bị cáo Lườn Văn Ph đưa cho bị cáo Qu n Thị P để bán cho bị cáo Phạm Văn T tại lán nươn nh của Lườn Văn Ph ở bản Lọn Mén, xã C, huyện TC, tỉnh Sơn La v o n y 25/3/2024. Lời khai của các bị cáo ph hợp với nhau. Do đó, buộc bị cáo Phạm Văn T phải chịu trách nhiệm với số ma túy bị thu giữ của bị cáo, với tổng trọng lượng là 0,27 gam.
N uồn ốc ma túy thu iữ của các bị cáo Qu n Thị P, Phạm Văn T: Các bị cáo Lườn Văn Ph, Qu n Thị P khai mua của một n ười đ n ôn dân tộc mông khôn biết họ tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực iáp danh huyện Thuận Châu v huyện Sôn Mã, tỉnh Sơn La v o khoản sau tết âm lịch năm 2024 (P và Ph khôn nhớ rõ n y thán cụ thể). N o i lời khai của các bị cáo khôn c n chứn cứ n o khác chứn minh. Do đó, buộc bị cáo Lườn Văn Ph, Qu n Thị P phải chịu toàn bộ số ma túy bị thu giữ của bị cáo Qu n Thị P và thu giữ của bị cáo Phạm Văn T, với tổng trọn lượng là: 2,32 gam.
Vật chứn vụ án:
Đối với số tiền 200.000 đồng bị cáo Qu n Thị P bán ma túy cho bị cáo Phạm Văn T v đưa cho bị cáo Lườn Văn Ph là tiền thu lợi bất chính, tiền do phạm tội mà có cần thu nộp ngân sách Nhà nước căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 03 viên nén màu hồng là Methamphetamine có khối lượng 0,28 gam, ký hiệu P3 l chất ma túy, thuộc loại Nh nước cấm tàng trữ, cấm lưu h nh. Đối với 03 mảnh nilon màu trắng; 01 mảnh nilon màu hồng; 02 vỏ phong bì niêm phong vật chứn ban đầu; 02 vỏ phong bì niêm phong 02 chiếc điện thoại ban đầu l côn cụ P tiện các bị cáo d n v o việc phạm tội, vật khôn có iá trị cần tịch thu tiêu hủy căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụn hình sự.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave RSX, m u đỏ, BKS 26NB1-519.20 thu iữ của bị cáo Phạm Văn T vào ngày 25/3/2024, là P tiện bị cáo d n v o việc phạm tội. Quá trình điều tra xác định l t i sản của chị Bạc Thị P, việc bị cáo Phạm Văn T sử dụn chiếc xe trên l m P tiện để thực hiện h nh vi phạm tội, chị Phu khôn biết v chị Phu đã cun cấp đầy đủ các iấy tờ hợp pháp v có đơn xin xe. Hội đồng xét xử xét thấy cần trả lại cho chị Bạc Thị P căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ Luật Hình sự.
Đối với một chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A32, màn hình cảm ứng, vỏ sau m u xanh dươn thu iữ của bị cáo Phạm Văn T, một chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu NOKIA, loại 105 thu giữ của bị cáo Quàng Thị P l điện thoại của bị cáo Lườn Văn Ph là công cụ, P tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy cần tuyên tịch thu nộp ngân sách Nh nước. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án ph :
Bị cáo Lườn Văn Ph l n ười dân tộc thiểu số cư trú ở v n có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên t a bị cáo có ý kiến xin miễn án ph hình sự sơ thẩm, cần áp dụn điểm đ khoản 1 Điều 12 N hị quyết 326/2016/UBTVQH14 n y 30 thán 12 năm 2016 của Ủy ban Thườn vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, iảm, thu, nộp, quản lý v sử dụn án ph v lệ ph T a án: Miễn án ph hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lườn Văn Ph.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 n y 30 thán 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Phạm Văn T, Qu n Thị P phải chịu to n bộ án ph hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh v hình phạt
Căn cứ điểm q khoản 2 Điều 251; điểm n, s, t khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Qu n Thị P phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Qu n Thị P 07 (bảy) năm 06 (sáu) thán tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án và khấu trừ 09 (chín) ngày tạm giữ, tạm giam.
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lườn Văn Ph phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Lườn Văn Ph 04 (bốn) năm t . Thời hạn chấp h nh hình phạt t t nh từ n y n y 28/6/2024.
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội: T n trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp h nh hình phạt t t nh từ n y n y 25/3/2024.
Khôn áp dụn hình phạt bổ sun (phạt tiền) đối với các bị cáo Quàn Thị P, Lườn Văn Ph, Phạm Văn T.
2. Về vật chứn vụ án: Áp dụn điểm a, b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụn hình sự:
Buộc bị cáo Lườn Văn Ph phải nộp sung vào n ân sách nh nước số tiền do phạm tội m có l : 200.000 đồn (l tiền bán ma túy cho bị cáo Phạm Văn T).
Tịch thu tiêu hủy:
Một phon bì niêm phon có viền m u xanh đỏ, mặt trước hi: Vật chứn nhập kho vụ Phạm Văn T -TTTPCMT và Qu n Thị P - MBTPCMT, bắt n y 25/3/2024. Mặt sau phon bì, dán iấy niêm phon của Côn an tỉnh Sơn La số: 0031004, đè lên các mép dán của phon bì v trên iấy niêm phon có đầy đủ chữ ký, họ tên của các th nh phần tham ia niêm phon , n ười bị bắt v 02 hình dấu đỏ của cơ quan CSĐT Côn an huyện TC, tỉnh Sơn La. Tại hai mép trái, phải của phon bì có ián băng dính. Bên trong có: 03 viên nén màu hồng là Methamphetamine có khối lượng 0,28 gam, ký hiệu P3 + 03 mảnh nilon màu trắn + 01 mảnh nilon màu hồn + 02 vỏ phong bì niêm phon vật chứn ban đầu+ 01 vỏ phong bì niêm phong chiếc điện thoại ban đầu thu iữ của Phạm Văn T+ 01 vỏ phong bì niêm phong chiếc điện thoại ban đầu thu iữ của Quàng Thị P.
Tịch thu nộp n ân sách Nh nước:
Một chiếc điện thoại di độn nhãn hiệu Samsun Galaxy A32, màu xanh, số sêri RF8RB1K690J, số IMEI 1: 355870668219584, số IMEI 2: 357848358219583, đã qua sử dụn cũ;
Một chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu NOKIA, loại 105, m u đen, số sêri 1: 353109112637832, số sêri 2: 353109113637831, đã qua sử dụn cũ .
Trả lại chị Bạc Thị P: Một chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave RSX, m u đỏ, BKS 26B1-519.20, đã qua sử dụn cũ, số khung RLHJC222CY668184, số máy: JC52E-5114088, bị hỏng nhiều chỗ.
(Theo biên bản iao nhận vật chứn n y 29/8/2024 iữa Cơ quan cảnh sát điều tra Côn an huyện TC v Chi cục Thi h nh án dân sự huyện TC).
3. Về án ph :
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 N hị quyết 326/2016/UBTVQH14 n y 30 thán 12 năm 2016 của Ủy ban Thườn vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, iảm, thu, nộp, quản lý v sử dụn án ph v lệ ph T a án: Miễn án ph hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lườn Văn Ph.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Qu n Thị P, Phạm Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồn (hai trăm n hìn đồn ) án ph hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền khán cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụn hình sự: Các bị cáo Qu n Thị P, Phạm Văn T, Lườn Văn Ph được quyền khán cáo bản án tron hạn 15 n y, kể từ n y tuyên án sơ thẩm.
N ười có quyền lợi n hĩa vụ liên quan đến vụ án chị Bạc Thị P được quyền khán cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, n hĩa vụ của mình tron hạn 15 n y, kể từ n y tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - Sở T pháp tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Thuận Châu (02 bản); - CA huyện TC; - Chi cục THADS huyện TC; - Trại tạm iam; - N ười tham ia tố tụn ; - Lưu: hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lò Mai Xiêng |