- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ninh Xuân Duy phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ninh Xuân D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Xử; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 200/2023/HSST Ngày: 08/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Quách Đình Hoằng
Bà Doãn Thị Lệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hải, Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thúy Vinh, Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 188/2023/TLST – HS ngày 10 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 209/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:
Ninh Xuân D, Tên gọi khác: Không; sinh ngày 12 tháng 3 năm 1994 tại Nam Định;
Nơi thường trú: Thôn N X H, xã Y N, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định và nơi ở hiện tại: Làng D Q, xã C Á, thành phố Pu, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Thợ mộc; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ninh Xuân H, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1972; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Thu S, sinh năm 1994 và có ba con lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo Ninh Xuân D bị tạm giữ từ ngày 25/7/2023 đến ngày 03/8/2023 sau đó chuyển tạm giam. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ninh Xuân D sử dụng trái phép chất ma túy từ khoảng thời gian tháng 3/2023. Thông qua các mối quan hệ xã hội, D có số điện thoại của đối tượng tên Lýt (không rõ nhân thân, lai lịch) là người bán ma tuý. Vào chiều ngày 25/7/2023, D đi làm mộc tại khu vực đường T S, thành phố Pl. Sau khi làm xong, D nảy sinh ý định mua ma tuý về sử dụng nên D đã gọi điện thoại cho L hỏi mua 01 gói ma tuý (loại Methamphetamine) với giá 400.000 đồng; L đồng ý và hẹn gặp nhau tại ngã ba đường T C và đường T S, thuộc làng N 1, xã I K, thành phố P. Khoảng 18 giờ 20 phút cùng ngày, D đi bộ ra đến điểm hẹn gặp L và đã mua 01 gói ma tuý (loại Methamphetamine) với giá 400.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, D cất giấu vào túi áo khoác mặc trên người, với mục đích để sử dụng. Đến 18 giờ 30 phút cùng ngày, khi D đang đứng tại ngã ba đường T C giao đường T S, thuộc làng N 1, xã I K, thành phố P, chuẩn bị đi tìm nơi để sử dụng ma tuý thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma tuý - Công an thành phố P phát hiện, và bắt quả tang; thu giữ vật chứng, gồm: 01 gói nilon chứa chất màu trắng, dạng tinh thể (đã được niêm phong theo quy định); 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo màu vàng – trắng (màn hình có nhiều vết nứt vỡ) cùng thẻ sim (mặt sim có dãy số 89840 48000 33710 7571)
Qua giám định, tại bản Kết luận giám định số 694/KL-KTHS ngày 03/8/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai kết luận: “Chất màu trắng, dạng tinh thể trong 01 (một) gói nilon trong bì công văn niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,2554 gam”
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như những tình tiết nêu trên.
Bản Cáo trạng số 207/CT-VKS ngày 09 tháng 11 năm 2023, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Ninh Xuân D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng, không thay đổi bổ sung gì và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ninh Xuân D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Ninh Xuân D mức án từ 1 năm 3 tháng đến 1 năm 6 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo
Xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bì công văn dán kín ghi số 694/PC09 ngày 03/8/2023, có dấu niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai một thẻ sim. Tịch thu sung công 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo, màu vàng – trắng.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi tố tụng và các quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai người làm chứng; người chứng kiến và phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Đồng thời căn cứ vào bản Kết luận giám định số 694/KLGĐ ngày 03/8/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai, có đủ cơ sở kết luận: Ninh Xuân D sử dụng trái phép chất ma túy từ khoảng thời gian tháng 3/2023. Vào khoảng 18 giờ 20 phút ngày 25/7/2023, tại ngã ba đường T C và đường T S, thuộc làng N 1, xã I K, thành phố P, D đã mua của đối tượng tên L (không rõ nhân thân, lai lịch) 01 gói ma tuý (loại Methamphetamine) với giá 400.000 đồng rồi cất giấu vào túi áo khoác với mục đích để sử dụng. Đến 18 giờ 30 phút cùng ngày, khi D đang đứng tại khu vực ngã ba đường T C và đường T S, thuộc làng N 1, xã I K, thành phố P thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma tuý - Công an thành phố P bắt quả tang cùng vật chứng. Qua giám định, xác định: Chất màu trắng, dạng tinh thể mà Ninh Xuân D tàng trữ để sử dụng là Methamphetamine, có khối lượng 0,2554 gam.
Bị cáo Ninh Xuân D là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện đó là lỗi cố ý, bị cáo đã tàng trữ 0,2554 gam ma túy loại Methamphetamine mục đích để sử dụng, nên hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Ninh Xuân D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Đây là vụ án “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, hành vi của bị cáo được xác định là tội phạm nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự trị an xã hội.
Để có mức án thỏa đáng, ngoài việc xem xét, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội nêu trên thì còn phải xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ của bị cáo trong vụ án để quyết định hình phạt cụ thể:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; căn cứ vào nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần lên cho bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay. Xét mức án đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản” nên bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, hành vi phạm tội không liên quan đến nghề nghiệp nên HĐXX miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với chất ma túy còn lại sau khi giám định, Cơ quan giám định hoàn trả cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P trong 01 bì công văn dán kín ghi số 694/PC09 ngày 03/8/2023, có dấu niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai là vật thuộc loại nhà nước cấm lưu hành, tàng trữ, đối với thẻ sim không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo màu vàng trắng bị cáo đã sử dụng liên lạc để mua ma túy nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Về các vấn đề khác: Đối với đối tượng tên L mà bị cáo D khai đã bán ma túy cho D: Do bị cáo D không biết được nhân thân, lai lịch; Cơ quan điều tra đã tiến hành mở danh bạ, nhật ký cuộc gọi, tin nhắn trong chiếc điện thoại đã thu giữ của D nhưng không xác định được số điện thoại của đối tượng L và không xác định được nội dung tin nhắn liên quan đến việc mua bán ma túy. Đồng thời, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã tiến hành xác minh tại địa bàn xã I K, thành phố P, tỉnh Gia Lai nhưng chưa xác định được đối tượng L có liên quan đến ma tuý nên chưa có căn cứ để điều tra, làm rõ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố tiếp tục xác minh và xử lý sau, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ninh Xuân D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Ninh Xuân D 1 (Một) năm 6 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 25/7/2023.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
Xử: Tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định được để trong 01 bì công văn dán kín ghi số 694/PC09 ngày 03/8/2023, có dấu niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai (Có chữ ký họ và tên của Hoàng Ngọc Bích, Nguyễn Minh Tâm, Hoàng Việt) và 01 thẻ sim mặt sau sim có dãy số 89840 48000 33710 7571
Tịch thu sung công 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu vàng trắng (Điên thoại cũ, đã qua sử dụng, màn hình có nhiều vết nứt vỡ, Chi cục THADS không kiểm tra tình trạng bên trong)
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/11/2023 giữa Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai).
4. Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử buộc bị cáo Ninh Xuân D phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND tỉnh Gia Lai;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND Tp. P;
- Công an Tp. P;
- Chi cục THADS Tp. P;
(Đã ký)
- Bị cáo, người bào chữa (nếu có);
- Những người tham gia tố tụng khác;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Thị Hồng Thắm
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quách Đình Hoằng Doãn Thị Lệ
Nguyễn Thị Hồng Thắm THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quách Đình Hoằng
Doãn Thị Lệ
Nguyễn Thị Hồng Thắm
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Gia Lai; - VKSND Tp. Pleiku; - Công an Tp. Pleiku; - Chi cục THADS Tp. Pleiku; - Bị cáo, người bào chữa (nếu có); - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nghiêm Thế Hùng Quách Đình Hoằng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Thắm THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Thắm |