vanban.org

Bản án 200/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Mộc Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 22/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Mùa Thị C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mùa Thị C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Mùa Thị C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 299 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘC CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 200/2023/HS-ST
Ngày 22-8-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Đình Bản và bà Nguyễn Thị Hiền.

- Thư ký phiên toà: Ông Hà Văn Thiết - Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 207/2023/TLST-HS ngày 04/8/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 201/2023/QĐXXST- HS ngày 11/8/2023 đối với bị cáo:

Mùa Thị C, sinh năm 1969 tại huyện B, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản X, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nữ: tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Mùa A S và bà Thào Thị L (Đã chết); bị cáo có chồng là Thào A C1 và 06 con; Tiền án; tiền sự: Không.

Nhân thân:

+ Ngày 22/7/2016 Toà án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt Mùa Thị C 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. (Đã được xóa tiền án).

+ Ngày 30/8/2018 Toà án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt Mùa Thị C 36 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý (Đã được xóa tiền án).

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/6/2023 đến nay, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14h00’ ngày 01/6/2023, tổ công tác Đồn Biên phòng C phối hợp với các lực lượng chức năng làm nhiệm vụ tại bản X, xã C, huyện M tiến hành kiểm tra đối với Mùa Thị C đang đi bộ đường dân sinh. Qua kiểm tra, phát hiện Mùa Thị C đang cất giấu trong chiếc túi thổ cẩm đeo trên người 01 gói nilon màu xanh bên trong đựng 146 viên nén màu hồng nghi là Methamphetamine và 01 túi nilon màu trắng, bên trong đựng cục chất bột màu trắng nghi là Heroine. C khai nhận đó là ma túy của C tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Căn cứ hành vi vi phạm của Mùa Thị C, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng và dẫn giải Mùa Thị C đến Đồn Biên phòng C để điều tra, làm rõ.

Ngày 01/6/2023, Đồn Biên phòng C đã tiến hành xác định khối lượng 146 viên nén màu hồng thu giữ của Mùa Thị C được 14,39 gam, lấy 05 viên có khối lượng 0,48g làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu C1. Cục chất bột màu trắng có khối lượng 18,29 gam, lấy 0,2 gam làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu C2.

Tại Kết luận giám định số 1412 ngày 02/6/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu C1 là ma tuý; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,48 gam. Mẫu gửi giám định C2 là ma tuý. Loại Heroine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,2 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 14,39 gam, loại Methamphetamine và 18,29 gam, loại Heroin.

Quá trình điều tra Mùa Thị C khai nhận: Bản thân nghiện chất ma túy. Khoảng 17h’ ngày 31/5/2023, C đi làm nương về đến bản X, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết, qua trao đổi C đã hỏi và mua được của người đàn ông đó 01 túi nilon màu xanh bên trong đựng 146 viên hồng phiến và 01 gói Heroine gói bằng mảnh nilon màu trắng với giá 2.000.000 đồng. C mang số ma túy vừa mua được về nhà cất giấu, mục đích để sử dụng dần. Đến sáng ngày 01/6/2023, C mang theo số ma túy đi làm nương. Đến 14h ngày 01/6/2023, C đi làm nương về, trên đường về thì gặp tổ công tác kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang.

Tại bản Cáo trạng số 162/CT- VKS ngày 03 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La đã truy tố bị can Mùa Thị C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Mùa Thị C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử lý đối với bị cáo như sau:

- Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Mùa Thị C từ 11 năm đến 12 năm tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

- Về vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì có ghi dòng chữ: “Vật chứng lưu kho vụ Mùa Thị C bắt ngày 01/6/2023 (phong bì niêm phong ban đầu; 01 (một) túi vải thổ cẩm, có kích thước chiều rộng 0,9 cm, chiều dài 17 cm; 01 (một) túi ni lon màu trắng; 01 túi ni lon màu xanh, vật chứng còn lại L1 = 141 viên; vật chứng còn lại L2 = 18,09 gam) và 01 (một) phong bì có ghi dòng chữ: Test thử ma túy của Mùa Thị C ngày 01/6/2023. Kết quả: Dương tính.

- Về án phí: Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Mùa Thị C.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án bị cáo hoàn toàn nhất trí với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát và có lời nói sau cùng xin được giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[ ] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[ ] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Mùa Thị C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan Điều tra, số ma túy bị tổ công tác thu giữ có nguồn gốc của bị cáo mua của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết với giá 2.000.000 đồng vào ngày 31/5/2023, mục đích để sử dụng. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Căn cứ quy định tại Điều 4, Chương II Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự thì tổng khối lượng các chất ma túy Heroine và Methamphetamine Mùa Thị C phải chịu trách nhiệm hình sự là 14,39 gam Methamphetamine + 18,29 gam Heroine = 32,68 gam.

Từ những chứng cứ nêu trên HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Mùa Thị C là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng do nghiện ma túy nên ngày 01/6/2023 bị cáo Mùa Thị C đã có hành vi tàng trữ 14,39 gam Methamphetamine và 18,29 gam Heroin nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định mức hình phạt tù từ 10 năm đến 15 năm.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện chất ma túy và đã hai lần bị kết án về tội phạm ma túy, đã được xóa án tích theo bản án số 119/2016/HSST ngày 22/7/2016 của Toà án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt Mùa Thị C 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý và bản án số 203/2018/HSST ngày 30/8/2018 của Toà án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt Mùa Thị C 36 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện mà tiếp tục lún sâu vào con đường phạm tội.

Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo không có tài sản có giá trị, do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo là phù hợp.

[ ] Về vật chứng, xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) phong bì có ghi dòng chữ: “Vật chứng lưu kho vụ Mùa Thị C bắt ngày 01/6/2023 (phong bì niêm phong ban đầu; 01 (một) túi vải thổ cẩm, có kích thước chiều rộng 0,9 cm, chiều dài 17 cm; 01 (một) túi ni lon màu trắng; 01 túi ni lon màu xanh, vật chứng còn lại L1 = 141 viên; vật chứng còn lại L2 = 18,09 gam) và 01 (một) phong bì có ghi dòng chữ: Test thử ma túy của Mùa Thị C ngày 01/6/2023. Kết quả: Dương tính. Xét thấy, đây là những vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ lưu hành và vật không có giá trị sử dụng. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

[ ] Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho Mùa Thị C như Chà khai, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.

[ ] Về án phí: Bị cáo Mùa Thị C là người dân tộc thiểu số cư trú ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, tại phiên tòa bị cáo xin được miễn án phí. Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về thời hạn tạm giam: Xét thấy thời hạn tạm giam của bị cáo còn lại dưới 45 ngày, do đó, Hội đồng xét xử quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo cho việc thi hành án.

Vì các l trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm h khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Mùa Thị C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Mùa Thị C 11 (Mười một) năm, 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày 01/6/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì có ghi dòng chữ: “Vật chứng lưu kho vụ Mùa Thị C bắt ngày 01/6/2023 (phong bì niêm phong ban đầu; 01 (một) túi vải thổ cẩm, có kích thước chiều rộng 0,9 cm, chiều dài 17 cm; 01 (một) túi ni lon màu trắng; 01 túi ni lon màu xanh, vật chứng còn lại L1 = 141 viên; vật chứng còn lại L2 = 18,09 gam) và 01 (một) phong bì có ghi dòng chữ: Test thử ma túy của Mùa Thị C ngày 01/6/2023. Kết quả: Dương tính.

3. Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Mùa Thị C.

4. Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Sơn La;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Sơn La;

- VKSND huyện Mộc Châu;

- Công an huyện Mộc Châu;

- Chi cục THADS huyện Mộc Châu;

(Đã ký)

- THAHS;

- Sở Tư pháp ;

- Bị cáo;

- Án văn, Lưu HSVA .

Vũ Thị Hƣơng THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN MỘC CHÂU

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA

Mộc Châu, ngày …… tháng ….. năm 2023

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi ..... giờ ....... phút, ngày …… tháng …..năm 2023;

Tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hương.

Các hội thẩm nhân dân: …………………………………………….

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 207/2023/TLST-HS ngày 04/8/2023 đối với:

Bị cáo Mùa Thị C, sinh năm 1969 tại huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản Xa Lú, xã Chiềng Khừa, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La;

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƢ SAU:

1. Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc thuộc trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Biểu quyết: 3/3;

2. Tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập, bị cáo cung cấp đều hợp pháp. Biểu quyết: 3/3;

3. Có đủ có căn cứ kết tội: Bị cáo Mùa Thị C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Biểu quyết: 3/3;

4. Về điều luật áp dụng và hình phạt: Căn cứ điểm h khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Mùa Thị C………………........……....…............ tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính ngày 01/6/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.

Biểu quyết: 3/3

5. Bị cáo không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.

Biểu quyết: 3/3

6. Về xử lý vật chứng, án phí hình sự:

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì có ghi dòng chữ: “Vật chứng lưu kho vụ Mùa Thị C bắt ngày 01/6/2023 (phong bì niêm phong ban đầu; 01 (một) túi vải thổ cẩm, có kích thước chiều rộng 0,9 cm, chiều dài 17 cm; 01 (một) túi ni lon màu trắng; 01 túi ni lon màu xanh, vật chứng còn lại L1 = 141 viên; vật chứng còn lại L2 = 18,09 gam) và 01 (một) phong bì có ghi dòng chữ: Test thử ma túy của Mùa Thị C ngày 01/6/2023. Kết quả: Dương tính.

* Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Mùa Thị C.

Biểu quyết: 3/3.

7.Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều hợp pháp.

Biểu quyết: 3/3.

8. Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông dân tộc Mông không quen biết đã bán ma túy cho Mùa Thị C, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.

Biểu quyết: 3/3

9. Về thời hạn tạm giam: Xét thấy thời hạn tạm giam của bị cáo còn lại dưới 45 ngày, do đó, Hội đồng xét xử quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo cho việc thi hành án.

Biểu quyết: 3/3

10. Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Biểu quyết: 3/3

11. Kiến nghị phòng ngừa tội phạm, khắc phục vi phạm: Không.

Biểu quyết: 3/3

Nghị án kết thúc vào hồi …… giờ …… phút, ngày …. tháng …. năm 2023.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Hƣơng

Cỡ chữ