vanban.org

Bản án 200/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà La Thị Mỹ T và ông Phạm Tấn P.

Giấy chứng nhận kết hôn số: 111/2019, ngày 11 tháng 7 năm 2019 tại Uỷ ban nhân dân xã VTT, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật. Về nuôi con chung: Có 01 (một) con chung chưa thành niên tên Phạm Ngọc Trâm A, sinh ngày 14/8/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà La Thị Mỹ T và ông Phạm Tấn P.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 200/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 19/4/2023
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con
chung giữa bà T và ông P

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Võ Việt Nam

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Nguyễn Văn Giữ

2.Ông Mai Minh Chánh

-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Hoàng –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu -Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 91/2023/TLST.HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2023, việc tranh chấp ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 119/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 153/2023/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, giữa:

1.Nguyên đơn: Bà La Thị Mỹ T, sinh năm 1991.

Địa chỉ: khóm VT, thị trấn VTT, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

Bà La Thị Mỹ T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2.Bị đơn: Ông Phạm Tấn P, sinh năm 1990. Vắng mặt.

Địa chỉ: ấp HL, xã ĐHC, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*.Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà La Thị Mỹ T trình bày và có ý kiến như sau:

Về hôn nhân: Giữa bà La Thị Mỹ T và ông Phạm Tấn P do quen biết, tìm hiểu nhau và tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2019, có tổ chức lễ cưới, hôn nhân lần thứ nhất của cả hai, có đăng ký kết hôn giấy chứng nhận kết hôn số: 111/2019, ngày 11/7/2019 do Ủy ban nhân dân xã VT, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẩn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, thường xuyên cự cải, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, cả hai không có tiếng nói chung, mặc dù cả hai đã nhiều lần tìm cách hàn gắn nhưng vẫn không khắc phục được và đã ly thân từ tháng 6 năm 2022 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm của vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà La Thị Mỹ T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Phạm Tấn P.

Về con chung: Có 01 (một) con chung chưa thành niên tên Phạm Ngọc Trâm A, sinh ngày 14/8/2020. Hiện cháu A đang sống chung với bà La Thị Mỹ T. Khi ly hôn, bà La Thị Mỹ T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung chưa thành niên tên Phạm Ngọc Trâm A, sinh ngày 14/8/2020 và không yêu cầu ông Phạm Tấn P phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên bà La Thị Mỹ T và ông Phạm Tấn P không yêu cầu Toà án giải quyết.

*.Bị đơn ông Phạm Tấn P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng ông Phạm Tấn P không có văn bản thể hiện ý kiến gửi cho Tòa án và không có mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán cho đến việc diễn biến tại phiên tòa của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh trụng. Tòa án nhân dân huyện Châu Phú nhận định:

Về tố tụng: Phiên tòa được mở lần thứ hai nhưng nguyên đơn bà La Thị Mỹ T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ghi ngày 30/3/2023, với nội dung đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bà La Thị Mỹ T. Ông Phạm Tấn P đã được Tòa án triệu tập dự phiên tòa đúng theo quy định Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nhưng ông Phạm Tấn P vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà La Thị Mỹ T và ông Phạm Tấn P.

Về hôn nhân: Giữa bà La Thị Mỹ T và ông Phạm Tấn P là hôn nhân hợp pháp bởi ông bà có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Xem xét yêu cầu ly hôn của bà La Thị Mỹ T và ông Phạm Tấn P, Hội đồng xét xử nhận thấy trong cuộc sống vợ chồng của ông bà đã không còn hạnh phúc, do một bên không còn tình cảm, đã có khoảng thời gian ly thân, cả hai có những mâu thuẫn mà không thể hàn gắn được do giữa ông bà không có sự cảm thông cho nhau. Trong quá trình Tòa án xem xét giải quyết vụ án, ông Phạm Tấn P không cung cấp ý kiến và không đến Tòa án tham dự phiên hòa giải, phiên tòa thể hiện chưa có sự quan tâm đối với yêu cầu ly hôn của bà La Thị Mỹ T. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân của ông bà đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà La Thị Mỹ T là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, bà La Thị Mỹ T được ly hôn với ông Phạm Tấn P.

Về nuôi con chung: Theo giấy khai sinh của Phạm Ngọc Trâm A, lời trình bày của bà La Thị Mỹ T thì bà và ông Phạm Tấn P có con chung chưa thành niên tên Phạm Ngọc Trâm A, sinh ngày 14/8/2020.

Xét thấy, cháu A dưới 36 tháng tuổi cần được bà T giáo dục, chăm sóc, quyền lợi của con chung được đảm bảo, là phù họp theo khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên bà La Thị Mỹ T yêu cầu tiếp tục nuôi con chung là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ khoản 3 Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, bà La Thị Mỹ T được trực tiếp nuôi dưỡng con chung chưa thành niên tên Phạm Ngọc Trâm A, sinh ngày 14/8/2020. Ông Phạm Tấn P có quyền và nghĩa vụ thăm nom con. Bà La Thị Mỹ T và các thành viên trong gia đình của bà La Thị Mỹ T không được cản trở ông Phạm Tấn P thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Bà La Thị Mỹ T không yêu cầu về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà La Thị Mỹ T trình bày giữa bà và ông Phạm Tấn P về tài sản chung và nợ chung là không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay do không có mặt của ông Phạm Tấn P để đối chất làm rõ các mối quan hệ này nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết. Nếu đương sự có tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.

Về án phí: Bà La Thị Mỹ T là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 143, khoản 4 Điều 147, Điều 179, Điều 186, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 83 và khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà La Thị Mỹ T và ông Phạm Tấn P.

Giấy chứng nhận kết hôn số: 111/2019, ngày 11 tháng 7 năm 2019 tại Uỷ ban nhân dân xã VTT, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.

2.Về nuôi con chung: Có 01 (một) con chung chưa thành niên tên Phạm Ngọc Trâm A, sinh ngày 14/8/2020.

2.1. Giao con chung chưa thành niên tên Phạm Ngọc Trâm A, sinh ngày 14/8/2020 cho bà La Thị Mỹ T được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng.

Ông Phạm Tấn P có quyền và nghĩa vụ thăm nom con. Bà La Thị Mỹ T và các thành viên trong gia đình của bà La Thị Mỹ T không được cản trở ông Phạm Tấn P thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2.2.Bà La Thị Mỹ T không yêu cầu về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

3.Về tài sản chung và nợ chung: Bà La Thị Mỹ T trình bày tài sản chung và nợ chung là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.

4.Về án phí: Bà La Thị Mỹ T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005260 ngày 15 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Bà La Thị Mỹ T đã nộp đủ.

5.Về quyền kháng cáo: Bà La Thị Mỹ T và ông Phạm Tấn P vắng mặt, thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ