vanban.org

Bản án 200/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội Tuyên án 28/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Ngọc A - Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm - phạm tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 200/2022/HSST
Ngày: 28/11/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T - THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Văn Long

Bà Bùi Thị Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, thành phố H

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Nguyễn – Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện T, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 208/2022/TLST-HS, ngày 11 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 208/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2022, đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Ngọc A, sinh năm 1986; Nơi sinh: H; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã D, huyện T, thành phố H; Nơi cư trú: PxxxAxxx-CTxxxA chung cư Đ, xã T, huyện T, thành phố H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H và bà Đoàn Thị L; Chồng là Nguyễn Văn H (đã ly hôn); có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam; hiện áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Néi dung vô ¸n:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng năm 2002, ông Nguyễn Văn H (SN: 1960, trú tại: Pxxx Chung cư H, A, H - là bố đẻ của Nguyễn Thị Ngọc A) có mua 01 cá thể rắn hổ mang chúa của một người không quen biết tại H với giá 7.000.000 đồng. Sau đó, ông H mang cá thể rắn trên về nhà rồi ngâm rượu trong 01 bình thủy tinh hình trụ tròn, cao 50 cm, đường kính 25 cm, dung tích 20 lít và để trưng bày tại nhà của ông H. Đến năm 2019, ông H cho bị cáo bình rượu ngâm rắn hổ mang chúa nêu trên. Sau đó, N mang bình rượu về trưng bày tại nhà PxxxAxxx-CTxxxA chung cư Đ, xã T, huyện T, thành phố H.

Đến tháng 8/2022, do không có nhu cầu sử dụng bình rượu rắn hổ mang chúa nữa nên N đã nảy sinh ý định bán bình rượu rắn này. N vào mạng xã hội Facebook rồi sử dụng tại khoản “An Đức” truy cập vào nhóm Facebook “Rượu rắn – rượu tắc kè - rượu kì đà – rượu ba kích” và đăng ảnh kèm tin bán 01 bình rượu rắn hổ mang chúa. Đến ngày 18/8/2022 có một tài khoản facebook tên “Quốc Huy” nhắn cho Ngọc A qua ứng dụng Messenger hỏi mua bình rượu ngâm rắn hổ mang chúa mà Ngọc A đăng bán. Sau khi thỏa thuận, Ngọc A đồng ý bán cho “Quốc Huy” bình rượu rắn hổ mang chúa với giá 10.000.000 đồng và yêu cầu Quốc H chuyển tiền đặt cọc trước 1.000.000 đồng. Ngày 22/8/2022, “Quốc Huy” sử dụng tài khoản ngân hàng MSB, tên chủ tài khoản: “Dang Ngoc Khuyen” và chuyển khoản số tiền 1.000.000 đồng đến số tài khoản 0031000343939, ngân hàng Vietcombank của Ngọc A. Sau đó “Quốc Huy” cho Ngọc A số điện thoại: 0782468985 để liên hệ giao bình rượu trên. Khoảng 16 giờ ngày 23/8/2022, một người đàn ông sử dụng số điện thoại 0782468985 gọi cho Ngọc A và hẹn giao bình rượu ngâm rắn hổ mang chúa đã đặt mua tại khu vực đường Nguyễn B, đoạn gần cổng khu đô thị H, xã T, huyện T, H. Đến khoảng 16 giờ 40 phút, sau khi đi làm về, Ngọc A gặp anh Bùi Văn T là lái xe taxi đang dừng đỗ dưới chân chung cư Đ và thuê chở N đến khu đô thị H, xã T, huyện T, H, đồng thời Ngọc A nhờ anh T lên PxxxAxxx-CTxxxA chung cư Đ, xã T, huyện T, thành phố H để bê bình rượu trên xuống, sau đó anh T điều khiển xe ô tô taxi BKS 30E-452.79 chở Ngọc A cùng bình rượu ngâm rắn hổ mang chúa đến khu vực đường N, đoạn gần cổng khu đô thị H, xã T, T, H. Khi đến nơi thì có 01 người đàn ông đi bộ đến nhận là người mua và yêu cầu xem bình rượu trên, sau đó người này tự bê bình rượu ngâm rắn hổ mang chúa từ ghế sau xe taxi xuống vỉa hè để xem.

Hồi 17 giờ 20 phút cùng ngày, tổ công tác Đội cảnh sát kinh tế công an huyện T phối hợp với Công an xã T đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại đường N, T, T, H, phát hiện xe ô tô taxi BKS: 30E-452.79 đang dừng đỗ tại lòng đường N còn Nguyễn Thị Ngọc A đang đứng nói chuyện với 01 người đàn ông, sau đó người này bê 01 (một) bình thuỷ tinh loại 20 lít, bên trong chứa chất lỏng và 01 cá thể rắn (chưa xác định chủng loại) từ ghế sau của xe taxi để xuống vỉa hè. Tổ công tác tiến hành kiểm tra thì nam thanh niên trên bỏ chạy. Tại chỗ, Ngọc A khai nhận bình thuỷ tinh nêu trên là bình rượu trong có ngâm 01 cá thể rắn hổ mang chúa, Ngọc A đang mang đi để bán nhưng chưa kịp bán thì bị công an kiểm tra nên tổ công tác đã lập biên bản, thu giữ tang vật và đưa Ngọc A về trụ sở để làm việc.

Ngoài ra tổ công tác còn thu giữ của Nguyễn Thị Ngọc A 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng, bên trong lắp sim số 0829908386.

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT công an huyện T tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Ngọc A tại PxxxAxxx, CTxxxA, chung cư Đ, xã T, huyện T, thành phố H; quá trình khám xét không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện T đã ra quyết định trưng cầu giám định đối với 01 cá thể rắn bên trong 01 bình thủy tinh hình trụ, cao khoảng 50 cm, đường kinh 25 cm, dung tích 20 lít.

Tại Kết luận giám định động vật số 1253/STTNSV ngày 24/8/2022 của Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật kết luận:

Xác định tên loài động vật: 01 (một) cá thể động vật đã chết được đựng trong bình thuỷ tinh hình trụ, cao khoảng 50 cm, đường kính khoảng 25 cm, dung tích 20 lít là loài Rắn hổ chúa có tên khoa học là Ophiophagus hannah, lớp bò sát (Reptilia).

Xác định tình trạng bảo tồn theo quy định của pháp luật:

1. Loài Rắn hổ chúa có tên trong Phụ lục I, Danh mục các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định số 64/2019/NĐ-CP, ngày 16/7/2019 của Chính phủ.

2. Loài Rắn hổ chúa cũng có tên trong Nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm ban hành theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP, ngày 22/9/2021 của Chính phủ.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện T, Nguyễn Thị Ngọc A đã khai nhận hành vi phạm tội như trên, lời khai của Ngọc A phù hợp với các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện T thu thập được. Ngoài ra, Ngọc A khai vào thời điểm Ngọc A mang bình rượu đi bán, Ngọc A biết cá thể rắn được ngâm trong bình rượu là rắn hổ mang chúa, tuy nhiên Ngọc A không biết việc mua bán trên là vi phạm pháp luật.

Đối với người đàn ông đã liên hệ để mua bình rượu bên trong ngâm cá thể rắn hổ mang chúa của Ngọc A, Ngọc A khai không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này, Ngọc A khai người này liên hệ với Ngọc A bằng số điện thoại 0782468985 và sử dụng tài khoản tại Ngân hàng H, tên chủ tài khoản: “Dang Ngoc Khuyen” để chuyển tiền đặt cọc. Xác minh tại Tổng công ty viễn thông Mobilefone, người đăng ký chủ thuê bao là Phạm Ngọc M, Cơ quan CSĐT công an huyện T đã tiến hành xác minh theo địa chỉ và số chứng minh nhân dân nhưng không có người nào tên Phạm Ngọc M theo thông tin Công ty Mobilefone cung cấp. Cơ quan CSĐT công an huyện T đã gửi công văn đến Ngân hàng H để xác minh thông tin tài khoản, chủ tài khoản “Dang Ngoc Khuyen” và gửi công văn đến Ngân hàng TMCP N để xác minh thông tin tài khoản đối ứng của số tài khoản 0031000343939 đối với giao dịch nhận tiền 1.000.000 đồng ngày 23/8/2022 nhưng chưa có kết quả. Ngày 02/11/2022, Cơ quan CSĐT công an huyện T đã ra quyết định tách phần tài liệu liên quan đến người đàn ông này để tiếp tục điều tra, làm rõ.

Đối với ông Nguyễn Văn H, quá trình điều tra xác định được, ông H có hành vi tàng trữ 01 bình rượu bên trong có ngâm 01 cá thể rắn hổ mang chúa từ năm 2002 đến năm 2019 thì ông H cho con gái là Ngọc A, tuy nhiên cá thể rắn hổ mang chúa này đã có từ trước ngày 01/01/2018, việc ông H tàng trữ cá thể rắn hổ mang chúa trong nhà với mục đích để trưng bày, năm 2019 ông H cho Ngọc A cá thể rắn trên, không có mục đích mua bán, thu lời bất chính, việc Ngọc A mang bình rượu bên trong ngâm cá thể rắn đi bán ông H không biết nên cơ quan CSĐT công an huyện T không xử lý.

Đối với anh Bùi Văn T, là lái xe taxi được Ngọc A thuê chở bình rượu bên trong ngâm cá thể rắn hổ mang chúa đi bán, quá trình điều tra xác định được, anh T không biết cá thể rắn trên là rắn hổ mang chúa, anh Thủy cũng không biết Ngọc A mang theo bình rượu rắn hổ mang chúa đi để bán kiếm lời nêu trên nên Cơ quan CSĐT công an huyện T không xử lý.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng, bên trong lắp sim số 0829908386 thu giữ của Nguyễn Thị Ngọc A, Ngọc A khai sử dụng để liên lạc với người mua bình rượu bên trong ngâm cá thể rắn hổ mang chúa nên cần tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại Bản cáo trạng số: 206/CT – VKS – TT ngày 10/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc A về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo điểm b khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T giữ nguyên quan điểm truy tố và kết luận như Cáo trạng truy tố. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đánh giá nhân thân, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 244; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 đề nghị xử phạt Nguyễn Thị Ngọc A từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”; Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; Tịch thu, tiêu hủy 01 bình thủy tinh hình trụ, dung tích 20 lít, bên trong có 01 cá thể rắn hổ mang chúa; truy thu đối với bị cáo số tiền 1.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động.

Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH cña tßa ¸n:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1] Về các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

2]. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Ngọc A đã khai nhận vào thời điểm mang bình rượu đi bán, Ngọc A biết được cá thể rắn được ngâm trong bình rượu là rắn hổ mang chúa nhưng vẫn mang đi bán do không nhận thức được việc mua bán trên là vi phạm pháp luật. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với với biên bản thu giữ vật chứng, bản kết luận giám định, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 17 giờ 20 phút ngày 23/8/2022, tại khu vực đường N, thuộc xã T, huyện T, thành phố H, Nguyễn Thị Ngọc A đang thực hiện hành vi bán 01 bình rượu cao khoảng 50 cm, đường kính khoảng 25 cm, dung tích 20 lít, bên trong ngâm 01 (một) cá thể Rắn hổ chúa có tên khoa học là Ophiophagus hannah, lớp bò sát (Reptilia), có tên trong Phụ lục I, Danh mục các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định số 64/2019/NĐ-CP, ngày 16/7/2019 của Chính phủ và có tên trong Nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm ban hành theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP, ngày 22/9/2021 của Chính phủ. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Ngọc A đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy đinh về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 244 Bộ luật Hình sự 2015.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, làm ảnh hưởng xấu và mất cân bằng hệ sinh thái, hành vi của bị cáo đã dán tiếp tiếp tay cho các đối tượng săn bắt các loài động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ.

3]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Ngọc A đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bố bị cáo đã mua rắn Hổ mang chúa từ năm 2002 từ khi chưa có chính sách xử lý hình sự đối với hành vi này, sau đó đến năm 2019 mới cho bị cáo, ngày 23/8/2022 bị cáo mang bình rượu đi bán do nhận thức pháp luật còn hạn chế, nên xác định bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bên cạnh đó, bị cáo là lao động chính, đã ly hôn, phải nuôi hai con nhỏ nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đánh giá tính chất, mức độ hành vi và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo không phải đối tượng chuyên nghiệp buôn bán động vật nguy cấp quý hiếp, bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiềm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, và có nơi cư trú rõ ràng có khả năng tự cải tạo. Xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo theo quy định tại điều 65 Bộ luật hình sự cũng đủ giáo dục và cải tạo bị cáo. Giao cho chính quyền và gia đình theo dõi giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.

5]. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, đã ly hôn, phải nuôi hai con nhỏ nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

6]. Về xử lý tang vật của vụ án:

Đối với 01 bình thủy tinh hình trụ, dung tích 20 lít, bên trong có 01 cá thể rắn hổ mang chúa là hàng hóa Nhà nước cấm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng, imei 356722083572023 bị cáo dùng để liên lạc mua bán bình rượu rắn, là công cụ phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

7]. Đối với số tiền 1.000.000 đồng bị cáo nhận chuyển khoản từ chủ tài khoản “Dang Ngoc Khuyen”: Đây là số tiền thu lời bất chính nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

8]. Đối với người đàn ông đã liên hệ để mua bình rượu bên trong ngâm cá thể rắn hổ mang chúa của bị cáo Cơ quan CSĐT công an huyện T đã ra quyết định tách phần tài liệu liên quan đến người đàn ông này để tiếp tục điều tra, làm rõ là đúng quy định của pháp luật.

9]. Đối với ông Nguyễn Văn H là bố đẻ bị cáo: Quá trình điều tra xác định ông H có hành vi tàng trữ 01 bình rượu bên trong có ngâm 01 cá thể rắn hổ mang chúa từ năm 2002, đến năm 2019 thì ông Hợp cho Ngọc A. Ông H tàng trữ cá thể rắn hổ mang chúa trong nhà với mục đích để trưng bày, năm 2019 ông H cho con gái là Ngọc A không có mục đích mua bán, thu lời bất chính. Do đó ông H không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị quyết số 05/2018/ NQ- HĐTP ngày 05/11/2018 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao.

10]. Đối với anh Bùi Văn T: Anh T là lái xe taxi được Ngọc A thuê chở bình rượu bên trong ngâm cá thể rắn hổ mang chúa đi bán. Quá trình điều tra xác định được, anh T không biết cá thể rắn trên là rắn hổ mang chúa, anh T cũng không biết Ngọc A mang theo bình rượu rắn hổ mang chúa đi để bán kiếm lời nêu trên nên Cơ quan CSĐT công an huyện T không xử lý là đúng quy định của pháp luật.

11]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật

12]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QuyÕt §Þnh:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 244; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106; 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Khoản 1 mục I Danh mục án phí, lệ phí tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc A 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Vi phạm quy đinh về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Thị Ngọc A cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, thành phố H và gia đình giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Thị Ngọc A thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 67 luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:

- Tịch thu, tiêu hủy 01 cá thể rắn hổ mang chúa đã chết được đựng trong bình thủy tinh hình trụ cao 50cm, đường kính 25cm, dung tích 20 lít được niêm phong tại nắp bình (Tiêu hủy cả bình thủy tinh và chất lỏng).

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng, imei 356722083572023 đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Thị Ngọc A.

(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 16/11/2022)

- Truy thu số tiền 1.000.000 đồng của bị cáo Nguyễn Thị Ngọc A để nộp ngân sách Nhà nước.

Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc A phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ