- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Quoc H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Quốc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH L Bản án số: 200/2022/HS-ST Ngày: 08 - 11 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ - TỈNH L
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Phạm Quang Vinh
+ Ông Mai Phú
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố phố Đ, tỉnh L.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ - tỉnh L tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt - Kiểm sát viên
Ngày 08 tháng 11 năm 2022, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân thành phố Đ, tỉnh L, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 226/2022/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 219/2022/QĐXXST - HS ngày 26/10/2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phan Quốc H, sinh năm: 1993, tại: L; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Số 32 (số mới 189/5) Ng C Tr, Phường 2, Thành phố Đ, tỉnh L; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Phan Văn T, sinh năm: 1965 và bà: Nguyễn Thị Xuân Th, sinh năm: 1969; vợ: Lê Đường Yến V, sinh năm: 1993 (đã ly hôn); có 01 con sinh năm: 2015; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 29/6/2022.
- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Quang V, sinh năm: 2000. Địa chỉ: Số 52 L T Tr, Phường 2, Thành phố Đ, tỉnh L.
(Bị cáo có mặt; người chứng kiến vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phan Quốc H sử dụng ma túy tổng hợp từ tháng 8/2021, ngày 23/06/2022, qua mạng xã hội Facebook H liên hệ với một người tên Công (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua hai gói ma tuý tổng hợp (gồm 01 gói Ketamine và 10 viên thuốc lắc) với giá 8.900.000 đồng thì Công đồng ý, giao dịch mua bán tại đường X V Ng T, Phường 7, Đ. Sau khi mua được ma túy, H mang số ma tuý này về nhà tại 189/5 Ng C Tr, Phường 2 - Đ, cất giấu để sử dụng dần. Ngày 29/06/2022, H lấy hai gói ma túy mua của Công trước đó bỏ vào 01 vỏ gói thuốc lá hiệu 555 rồi đón xe taxi đi đến Phường 12- Đ để tìm bạn cùng sử dụng ma tuý. Đến 22 giờ 10 phút, cùng ngày, khi đến khu vực trước cây xăng Th Ph, Phường 12, Đ, do sợ bị cơ quan Công an phát hiện nên H đã cất vỏ gói thuốc lá chứa ma túy lên trụ cổng trước nhà dân gần cây xăng và quay lại chỗ xe taxi khoảng hơn 10m đợi bạn thì bị lực lượng tuần tra của Công an Phường 12 - Đ đến kiểm tra, H đã tự giác chỉ vị trí cất giấu ma tuý và cùng Cơ quan Công an kiểm tra, thu giữ 01 vỏ gói thuốc lá hiệu 555, bên trong có chứa hai gói nylon màu trắng trong, mỗi gói đều có một đầu có khoá dạng kẹp nhựa, có đường chỉ màu đỏ, gói thứ nhất có kích thước là 4x7,5cm chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma tuý tổng hợp dạng Ketamine và gói thứ hai có kích thước là 4x7,5cm, chứa các viên nén màu xanh nghi là ma tuý tổng hợp dạng thuốc lắc. H khai nhận hai gói nylon màu trắng trên là ma tuý tổng hợp (Ketamine và Thuốc lắc) H tàng trữ để sử dụng khi cần. Cơ quan Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong tang vật theo quy định (BL: 32-33; 37-41; 48-71).
Tang vật thu giữ:
- 02 gói nylon màu trắng trong, đều có một đầu có khoá dạng kẹp nhựa, có đường chỉ màu đỏ, có kích thước là 4x7,5cm, gói thứ nhất chứa chất tinh thể màu trắng và gói thứ hai chứa các viên nén màu xanh nghi là ma tuý.
- 01 vỏ bao thuốc lá hiệu 555;
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone XSMax màu đen, có ốp lưng trong (BL: 34-36).
Tại bản kết luận giám định số: 742/KL-KTHS ngày 05/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh L kết luận:
- Mẫu tinh thể đựng trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, có khối lượng 6,3972g.
- Mẫu mười viên nén đựng trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại MDMA, có khối lượng 3,3810g.
Ketamine là chất ma túy, nằm trong Danh mục III, STT: 35, Nghị định 73/2018/NĐ- CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
MDMA là chất ma túy, nằm trong Danh mục I, STT: 27, Nghị định 73/2018/NĐ- CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ (BL: 42-47).
Tại bản cáo trạng số 220/CT-VKSĐL ngày 17/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ truy tố bị cáo Phan Quốc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Phan Quốc H khai nhận, bản thân bị cáo có sử dụng ma túy nên có mua ma túy cất giữ để sử dụng dần. Vào tối ngày 29/6/2022, khi H đang ở khu vực trước cây xăng Th Ph, Phường 12, Thành phố Đ thì bị cơ quan Công an kiểm tra hành chính, H đã tự giác chỉ nơi cất giấu ma tuý trên trụ cổng trước nhà dân gần cây xăng và bị bắt giữ cùng tang vật như cáo trạng truy tố là hoàn toàn chính xác; bị cáo không thắc mắc, khiếu nại về cáo trạng truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Sau phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phan Quốc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phan Quốc H từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, tỉnh L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo Phan Quốc Là đối tượng sử dụng ma và để có ma túy sử dụng, vào ngày 23/06/2022, tại khu vực đường X V Ngh T, Phường 7, Thành phố Đ, Phan Quốc H mua của một người tên Công (không rõ nhân thân, lai lịch) 02 gói ma túy tổng hợp mang về nhà cát giữ để sử dụng. Ngày 29/06/2022, H lấy hai gói ma túy mua của Công trước đó bỏ vào 01 vỏ gói thuốc lá hiệu 555 rồi đón xe taxi đi đến Phường 12- Đ để tìm bạn cùng sử dụng ma tuý. Đến 22 giờ 10 phút, cùng ngày, khi đến khu vực trước cây xăng Th Ph, Phường 12 - Đ, do sợ bị cơ quan Công an phát hiện nên H đã cất vỏ gói thuốc lá chứa ma túy lên trụ cổng trước nhà dân gần cây xăng và quay lại chỗ xe taxi khoảng hơn 10m đợi bạn thì bị lực lượng tuần tra của Công an Phường 12 - Đ đến kiểm tra, H đã tự giác chỉ vị trí cất giấu ma tuý và cùng Cơ quan Công an kiểm tra, thu giữ 01 vỏ gói thuốc lá hiệu 555, bên trong có chứa 02 gói ma tuý. H khai nhận tang vật bị thu giữ là ma tuý của H mua về mục đích để sử dụng.
Tại Kết luận giám định số 742/KL-KTHS ngày 05/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh L xác định:
Mẫu tinh thể đựng trong 01 gói nylon được niêm phong (M1) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 6,3972g (sáu phẩy ba chín bảy hai gam) loại Ketamine và mẫu mười viên nén đựng trong 01 gói nylon được niêm phong (M2) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 3,3810g (ba phẩy ba tám một không gam) loại MDMA,
Xét thấy, bị cáo Phan Quốc H là người đã trưởng thành có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và là đối tượng sử dụng ma túy. Bản thân bị cáo biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật, nhưng là đối tượng sử dụng ma túy và để có ma túy sử dụng bị cáo vẫn thực hiện nhằm thỏa mãn cho nhu cầu cá nhân. Hành vi của Phan Quốc H không chỉ vi phạm pháp luật về chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương mà còn là một trong những nguyên nhân góp phần gây ra những tệ nạn xã hội khác. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa; lời khai của bị cáo, của người chứng kiến trong quá trình điều tra, phù hợp với tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Có đủ căn cứ kết luận hành vi của Phan Quốc H phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như cáo trạng số 220/CT-VKSĐL ngày 17/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh L truy tố và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ: Do bị cáo thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình; đầu thú về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng điểm s khoản 1và 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là phù hợp.
Trong vụ án này còn có người phụ nữ tên “Công” (không rõ nhân thân, lai lịch) là người đã bán ma túy cho Quân, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Lạt tiếp tục xác minh khi nào làm rõ sẽ xử lý theo quy định.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Điều tra đã thu giữ tang vật gồm: 02 gói nylon màu trắng trong, đều có một đầu có khoá dạng kẹp nhựa, có đường chỉ màu đỏ, kích thước là 4x7,5cm, gói thứ nhất chứa chất tinh thể màu trắng và gói thứ hai chứa các viên nén màu xanh, qua giám định đều là chất ma tuý và 01 vỏ bao thuốc lá hiệu 555, xét thấy là chất cấm lưu hành nên tịch thu tiêu huỷ. Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone XSMax màu đen, có ốp lưng trong, không liên quan đến việc giải quyết vụ án và thi hành án nên trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phan Quốc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Phan Quốc H 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/6/2022.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a và c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
2.1. Tịch thu tiêu hủy tang vật gồm:
- 02 (hai) phong bì niêm phong có chữ ký ghi họ tên “Phạm Thị D” “Hoàn Thị Thanh H”, “Hoàng Văn B” và hình đấu tròn màu đỏ của Phòng kỷ thuật hình sự - Công an tỉnh L.
- 01(một) phong bì niêm phong chứa vỏ bao thuốc lá hiệu 555, có chữ ký giáp lai của Nguyễn Viết T, Nguyễn Đức A, Nguyễn Quang V và Phan Quốc H, đóng dấu tròn đỏ của Công an Phường 12, Thành phố Đ.
2.2. Trả cho bị cáo H 01(một) điện thoại di động hiệu Iphone XSMax màu đen, có ốp lưng trong (được niêm phong trong 01 phong bì mặt sau có chữ ký giáp lai của Phan Ngọc S, Hoàng Vi X, Phan Quốc H).
(Theo biên bản giao, nhận tang vật ngày 17/10/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đ).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Phan Quốc H phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm. /.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh L (02); - Sở Tư pháp tỉnh L; - VKSND tp. Đ; - Công an tp. Đ; - Nhà tạm giữ Công an tp. Đ; - Chi cục THADS tp. Đ; - Bị cáo; - Lưu: bộ phận lưu trữ; hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đa ký) Nguyễn Thị Huyền |