vanban.org

Bản án 200/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội Tuyên án 16/10/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: PHẠM HUY S phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; Xử phạt: PHẠM HUY S 20 (HAI MƯƠI) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/6/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: PHẠM HUY S phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.
  • Căn cứ chính? Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HOÀN KIẾM TP HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 200/2020/HSST
Ngày 16 tháng 10 năm 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hà - Thẩm phán.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Anh Dũng và Bà Nguyễn Thị Hương

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa:

Ông Lê Việt Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 10 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 195/2020/TLST-HS ngày 28 tháng 9 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 195/2020/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 9 năm 2020 đối với:

* Bị cáo: Phạm Huy S. Sinh năm: 1997. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: thôn L, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Họ tên cha: Phạm Văn T. Sinh năm: 1973. Họ tên mẹ: Nguyễn Phương L. Sinh năm: 1977. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Danh chỉ bản số 276 lập ngày 23/6/2020 tại Công an quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Nhân thân: Không có tiền án, tiền sự Tạm giữ: 18/06/2020 - Tạm giam: 27/06/2020 Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 thành phố H. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 18/6/2020, tổ công tác C1-D2-PK02E - Công an TP Hà Nội làm nhiệm vụ trên địa bàn, phát hiện Phạm Huy S đang điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 89D1-12202 đến trước cửa nhà số 21 phố H, phường H, quận K, H có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Quá trình kiểm tra, phát hiện và thu giữ trong túi quần đằng trước bên phải có 01 gói giấy màu trắng bên trong có 01 viên nén hình tròn màu xanh có ký hiệu LV. Tại chỗ, S khai nhận là ma túy tổng hợp mang theo để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản thu giữ, niêm phong và đưa S cùng tang vật về trụ sở Công an phường H để giải quyết.

Tang vật thu giữ của Phạm Huy S: 01 gói giấy màu trắng bên trong có 01 viên nén hình tròn màu xanh có ký hiệu LV; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, BKS: 89D1-122.02, số khung: RLHHC1211DY226786, số máy: HC12E-5226948. (BL: 33).

Tại Bản Kết luận giám định số 4925/KLGĐ-PC09 ngày 26/06/2020, của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội kết luận: 01 viên nén màu xanh lôgô LV bên trong 01 gói giấy màu trắng là ma túy loại MDMA, khối lượng: 0,328 gam (BL: 40A).

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Huy S tại thôn L, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên không phát hiện thu giữ đồ vật gì liên quan đến ma túy. (BL: 27).

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Huy S khai nhận: S sử dụng ma túy tổng hợp từ năm 2019. Khoảng 3 tháng trước khi bị bắt, S được một người bạn xã hội (không biết địa chỉ) cho 01 viên nén hình tròn màu xanh có ký hiệu LV là ma túy dạng “kẹo”. S cất viên ma túy vào trong túi quần phía trước bên phải mục đích để sử dụng. Khoảng 18 giờ ngày 17/6/2020, S mang theo viên ma túy cất trong túi quần phía trước bên phải điều khiển xe máy lên H chơi. Khi đi đến trước cửa nhà số 21 H, phường H, quận K, Hà Nội thì bị Công an kiểm tra, bắt giữ như đã nêu trên. Chiếc xe máy S mượn của bạn là anh Bùi Trung K để đi có việc. (BL: 56-72).

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh BKS: 89D1-12202; số khung: RLHHC1211DY226786, số máy: HC12E-5226948, quá trình điều tra xác định đứng tên đăng ký xe là anh Bùi Trung K (sinh năm 1997; ĐKHKTT: Đội 5 Đ, K, Hưng Yên), xe không có trong dữ liệu xe vật chứng. Anh K mua xe từ năm 2014 và sử dụng đến nay. Quá trình điều tra xác định, anh K có cho S mượn xe máy nhưng không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của S nên Cơ quan điều tra không xử lý. Ngày 09/9/2020, Cơ quan CSĐT-Công an quận Hoàn Kiếm đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe máy trên cho anh K. Anh K đã nhận lại xe và không có yêu cầu gì khác về dân sự. (BL: 45-46; 83-89).

Về đối tượng cho S ma túy, S khai không biết nhân thân, lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có điều kiện xác minh làm rõ.

Tại bản cáo trạng số 181/CT-VKS ngày 16 tháng 9 năm 2020 đã truy tố Phạm Huy S tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ Luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận như khai tại Cơ quan điều tra và công nhận nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ Luật Hình sự là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm giữ quyền công tố sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo bản cáo trạng đã ban hành, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Huy S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 47, khoản 1 điểm s Điều 51 của Bộ Luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo với mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Đề nghị tịch thu tiêu hủy ma túy. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng Nghị án, bị cáo được nói lời sau cùng, bị cáo trình bày bản thân nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là phạm tội, xin hứa không tái phạm, xin hứa cai nghiện ma túy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về tố tụng: Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàn Kiếm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

. Lời khai của bị cáo phù hợp lời khai người làm chứng, biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 18/6/2020, Phạm Huy S đã có hành vi cất giấu trái phép 0,328 gam ma túy loại MDMA nhằm mục đích để sử dụng tại trước cửa nhà số 21 phố H, phường H, quận K, H thì bị bắt quả tang cùng tang vật.

Hành vi tàng trữ ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và biết rõ hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo được hưởng tính tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Không có.

Về quyết định hình phạt: Hội đồng xét xử nhận thấy cần thiết áp dụng hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nhằm bảo vệ các quan hệ xã hội bị các hành vi vi phạm pháp luật xâm hại, đảm bảo tính công minh của pháp luật; cách ly người phạm tội với môi trường xã hội, phòng ngừa, ngăn chặn không để họ tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội; răn đe những người có ý định phạm tội góp phần vào cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, đảm bảo an ninh, trật tự của đất nước. Hơn nữa, bị cáo được giáo dục cải tạo, giúp bị cáo nhận thức rõ tội lỗi, hành vi vi phạm pháp luật, khắc phục, sửa chữa những thói quen, hành vi của bản thân không phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội; ăn năn, hối cải, tích cực lao động, học tập, cải tạo, xây dựng nhận thức, tình cảm đúng đắn, định hướng được các giá trị, chuẩn mực về đạo đức, lối sống của công dân để khi trở về địa phương, họ sẽ trở thành những công dân có ích cho xã hội.

Thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 18/6/2020 được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù theo quy định của pháp luật.

Về hình phạt phụ bổ sung: Do bị cáo có thu nhập thấp nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về Biện pháp tư pháp: Tịch thu, tiêu huỷ số ma túy đã thu giữ của bị cáo.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Án phí hình sự: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố: PHẠM HUY S phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.

2. Áp dụng:

- Điều 249 khoản 1 điểm c; Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ Luật Hình sự năm 2015;

- Điều 106, 135, 136, 331, 333 của Bộ Luật tố tụng hình sự 2015;

- Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;

3. Xử phạt: PHẠM HUY S 20 (HAI MƯƠI) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/6/2020.

4. Biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy một phong bì niêm phong có 01 gói giấy màu trắng chứa 01 viên nén hình tròn màu xanh có ký hiệu LV là ma túy loại MDMA, có khối lượng 0,328 gam, phòng PC09 trích mẫu giám định 0,126 gam, khối lượng còn lại 0,202 gam. Tại các mép phong bì niêm phong có chữ ký của Phạm Huy S, người làm chứng anh Phạm Quang H, giám định viên Nguyễn Văn Hà, cán bộ Nguyễn Đức Anh.

Số vật chứng trên hiện giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm - theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 12/10/2020.

5. Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ