vanban.org

Bản án 200/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 09/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên ố: Bị cáo Tr n Thị Ng ph m tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy”.

Xử ph t: Bị cáo Tr n Thị Ng 15 (Mười lăm) tháng tù, thời h n t tính t ngày t 12 tháng 5 năm 2020. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,07 gam (Không phẩy không bảy gam) ma túy lo i Methamphetamine hoà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị Nga phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên ố: Bị cáo Tr n Thị Ng ph m tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẠ LONG
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 200/2020/HS - ST
Ngày 09 - 7 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hiệp.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông i Ngọc Hà và à Vũ H ng Ti n.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn H ng Quân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố H ong, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tu n Anh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 9 tháng 7 năm 2020 t i Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố H ong, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 210/2020/TLST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2020 theo Quy t định đưa vụ án ra xét xử số: 202/2020/QĐXXST-HS ngày 23/6/2020 đối với ị cáo:

T T Ng - Tên gọi khác: Không; sinh ngày 24/11/1986 t i thành phố Hải Ph ng; nơi cư trú: Đội 3, thôn A1, x A2, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Ph ng; nghề nghiệp: ao động tự do; trình độ văn hóa: ớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tr n Văn H, sinh năm 1957 (đ ch t) và bà Đ Thị A, sinh năm 1959 (đ ch t); Ch ng, con: Không; tiền sự, tiền án: Không; Nhân thân: Ngày 28/6/2012, bị Tòa án nhân dân thành phố H Long, tỉnh Quảng Ninh xử ph t 48 tháng t về tội “Mua án trái phép ch t ma túy”.

Bị cáo ị b t quả tang ngày 12/5/2020, hiện đang t m giam t i Tr i t m giam Công an tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

- Anh Điêu Chính Tr, sinh năm 1995; Trú t i: Bản E, x M, huyện Tủa Ch a, tỉnh Điện Biên. V ng mặt.

Chị B i Thị H1, sinh năm: 1996; Trú t i: Bản N1, x N2, huyện Mường Ch , tỉnh Điện Biên. V ng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn i n t i phiên t a, nội dung vụ án được tóm t t như sau: Vào h i 14 giờ 45 phút ngày 12/5/2020, t i khu vực thuộc t 6, khu 9B, phường B, thành phố H Long, tỉnh Quảng Ninh, Tr n Thị Ng có hành vi c t gi u trong người 0,119 gam ma túy, lo i Methamphetamine, với mục đích để sử dụng thì bị Công an phát hiện, b t quả tang. Vật chứng thu giữ t i tay phải của bị cáo g m: 01 túi nilon bên trong chứa ch t tinh thể màu tr ng.

K t luận giám định số: 484/KLGĐ ngày 15/5/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, k t luận: Ch t tinh thể màu tr ng thu giữ của Tr n Thị Ng là ma túy, lo i Methamphetamine, khối lượng 0,119 gam.

T i cơ quan điều tra (CQĐT) và t i phiên tòa bị cáo Tr n Thị Ng khai nhận: Bị cáo sử dụng ma túy đá t khoảng năm 2012, do có nhu c u sử dụng ma túy nên khoảng 14 giờ 30 phút ngày 12/5/2020, bị cáo đi đ n khu vực chợ C, thuộc phường B, thành phố H ong để tìm mua ma túy, t i đây bị cáo gặp và mua của một người đàn ông không bi t tên tu i, địa chỉ một túi ma túy với giá 300.000 đ ng. Sau khi mua được ma túy, bị cáo c m đi tìm nơi sử dụng. Bị cáo đi bộ đ n đo n đường dân sinh ven bờ h A3 thuộc t 6, khu 9B, phường B, thành phố H Long thị bị Công an b t quả tang, thu giữ túi ma túy bị cáo đang c m trên tay. Bị cáo nhận th y Viện kiểm sát truy tố, T a án xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy” là đúng người, đúng tội, không oan.

Những người làm chứng anh Điêu Chính Tr và chị B i Thanh H1 v ng mặt t i phiên t a nhưng t i CQĐT có lời khai thể hiện: Khoảng 14 giờ 45 phút ngày 12/5/2020, anh Tr và chị H1 được nhìn th y Công an kiểm tra, thu giữ t i tay phải của bị cáo Ng 01 túi nilon bên trong có ch t tinh thể màu tr ng, bị cáo Ng khai đó là ma túy đá, c t gi u mục đích để sử dụng.

Cáo tr ng số 181/CT-VKSHL ngày 11/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H ong truy tố Tr n Thị Ng về tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy” theo quy định t i điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên trình ày luận tội, đưa ra các chứng cứ, chứng minh hành vi ph m tội của ị cáo và giữ nguyên quan điểm truy tố ị cáo về tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy” như nội dung Cáo tr ng, đề nghị Hội đ ng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị mức hình ph t đối với bị cáo Tr n Thị Ng t 15 đ n 18 tháng t ; Không áp dụng hình ph t sung. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn l i sau giám định.

Đối với người đàn ông án ma túy cho bị cáo Ng vào ngày 12/5/2020, quá trình điều tra không có căn cứ để xác minh xử lý.

T i ph n tranh luận, ị cáo không tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo nói lời sau c ng, ị cáo ân hận về hành vi ph m tội của mình xin Hội đ ng xét xử xem xét xử ph t mức án th p nh t.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã được tranh tụng t i phiên t a, Hội đ ng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quy t định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H ong, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H ong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên t a, ị cáo không có ý ki n, khi u n i về hành vi, quy t định của Cơ quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quy t định tố tụng của Cơ quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng đ thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi ph m tội của ị cáo: T i phiên t a, ị cáo Tr n Thị Ng đ khai nhận toàn ộ hành vi ph m tội của mình, khẳng định việc truy tố, xét xử ị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. ời khai nhận tội của ị cáo t i phiên t a ph hợp với lời khai t i CQĐT, ph hợp với lời khai của người làm chứng, ph hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong h sơ vụ án đ được thẩm tra và công ố công khai t i phiên t a như: Biên ản t người ph m tội quả tang; iên ản niêm phong đ vật, tài liệu bị t m giữ; biên ản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định; k t luận giám định số 484/KLGĐ ngày 15/5/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; Bản luận tội Kiểm sát viên trình ày t i phiên t a. Với các chứng cứ nêu trên, đủ cơ sở k t luận: H i 14 giờ 45 phút ngày 12 tháng 5 năm 2020, t i khu vực t 6, khu 9B, phường B, thành phố H ong, tỉnh Quảng Ninh, Tr n Thị Ng có hành vi tàng trữ trái phép 0,119 gam (Không phẩy một một chín gam) ma túy, lo i Methamphetamine với mục đích để sử dụng thì ị Công an phát hiện, t quả tang.

Hành vi ph m tội của ị cáo là nguy hiểm cho x hội, xâm ph m đ n ch độ độc quyền quản lý các ch t ma túy của Nhà nước, không những gây m t trật tự, an toàn x hội t i địa phương mà còn ti p tay cho những đường dây mua bán ma túy và làm gia tăng các lo i tội ph m khác. Bị cáo có đ y đủ năng lực trách nhiệm hình sự (TNHS), hiểu được tác h i của ma túy nhưng không có ý thức ch p hành pháp luật nên đ có hành vi tàng trữ trái phép 0,119 gam ma túy lo i Methamphetamine, mục đích để sử dụng. Hành vi ph m tội của ị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi đó đ thỏa m n d u hiệu và đủ y u tố c u thành tội: “Tàng trữ trái phép ch t ma tuý”, tội danh và hình ph t được quy định t i điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự, có mức hình ph t t t 01 năm đ n 05 năm. Nội dung luận tội của Kiểm sát viên t i phiên t a ph hợp với nội dung Cáo tr ng đ truy tố và đề nghị xét xử đối với ị cáo là có căn cứ pháp luật.

Xét nhân thân, tình ti t giảm nhẹ và tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự thì th y: Bị cáo là người nghiện ma túy, có nhân thân x u, t ng bị k t án về tội mua bán trái phép ch t ma túy nhưng v n không l y đó làm bài học để tu dường r n luyện bản thân, không t ỏ được ma túy; Về tình ti t tăng nặng: Không; Về tình ti t giảm nhẹ: T i CQĐT và phiên t a, ị cáo thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải về hành vi ph m tội của mình. Đây là tình ti t giảm nhẹ TNHS được quy định t i điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Hội đ ng xét xử xem xét giảm nhẹ một ph n hình ph t để ị cáo th y được chính sách khoan h ng, nhân đ o của pháp luật mà cải t o, giáo dục thành người lương thiện, có ích cho gia đình và x hội.

Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nh c tính ch t và mức độ nguy hiểm cho x hội của hành vi ph m tội, nhân thân ị cáo, các tình ti t giảm nhẹ TNHS, Hội đ ng xét xử uộc ị cáo phải ch p hành hình ph t t i cơ sở giam giữ trong một thời h n nh t định, nhằm giáo dục ị cáo ý thức tuân theo pháp luật, ngăn ng a ị cáo ph m tội mới; đ ng thời góp ph n giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, ph ng ng a và đ u tranh chống tội ph m.

Về hình ph t sung: Theo quy định t i khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự thì ị cáo c n có thể ị áp dụng hình ph t sung là hình ph t tiền nhưng ị cáo là đối tượng sử dụng ma tuý, hiện không còn công việc, thu nhập nên không áp dụng.

Về vật chứng: ượng ma túy 0,07 gam ma túy, lo i Methamphetamine hoàn l i sau giám định là vật Nhà nước c m tàng trữ, lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo ản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tuyên ố: Bị cáo Tr n Thị Ng ph m tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy”.

Xử ph t: Bị cáo Tr n Thị Ng 15 (Mười lăm) tháng tù, thời h n t tính t ngày t 12 tháng 5 năm 2020.

Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,07 gam (Không phẩy không bảy gam) ma túy lo i Methamphetamine hoàn l i sau giám định trong phong bì niêm phong số 484/K GĐ ngày 15/5/2020. Tình tr ng vật chứng được thi hành theo Biên ản giao nhận vật chứng, tài sản số: 201/BB - THA ngày 18/6/2020 giữa Công an thành phố H ong và Chi cục thi hành án dân sự thành phố H ong.

Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc Hội: Buộc ị cáo Tr n Thị Ng phải chịu 200.000 đ ng (Hai trăm nghìn đ ng) án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo ản án: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời h n 15 ngày kể t ngày tuyên án.

Cỡ chữ