- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGUYỄN PHÚC MINH DƯƠNG- NGUYỄN MINH ĐỨC"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Phúc Minh D.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 200/2020/HNGĐ-ST Ngày: 20 - 4 - 2020 V/v: “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thanh Trang
2. Ông Bùi Ngọc Hiếu
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Huyền Trang- Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 4 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 806/2019/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2019 về: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 82/2020/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Phúc Minh D, sinh năm 1979.
Thường trú: 412 Lô A chung cư Tây Thạnh, phường T, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tạm trú: Số 7 đường T5, phường T, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1978.
Địa chỉ: Số 7 đường T5, phường T, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Bà D có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, ông Đ vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn - bà Nguyễn Phúc Minh D trình bày: Bà và ông Nguyễn Minh Đ tự nguyện kết hôn vào năm 2006, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 5, thị xã B, tỉnh Bến Tre theo Giấy chứng nhận kết hôn số 13/2006, quyển số 01 ngày 01/6/2006.
Quá trình sống chung thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng càng về sau bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do bất đồng quan điểm, tính cách không hòa hợp, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, vợ chồng đã sống ly thân, mâu thuẫn không thể giải quyết. Nay bà nhận thấy tình cảm không còn, vợ chồng không còn cuộc sống chung, tình cảm không thể hàn gắn, không còn mục đích hôn nhân nên bà yêu cầu ly hôn với ông Đ để dứt khoát trên pháp lý.
Về con chung: Bà và ông Đ có 02 con chung tên Nguyễn Nhật N, sinh ngày 06/01/2007 và Nguyễn Hương Nguyệt Q, sinh ngày 27/12/2009. Khi ly hôn bà D yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà D xác nhận không có.
Tòa án nhân dân quận Tân Phú đã tổ chức phiên hòa giải để các đương sự giải quyết ly hôn nhưng do bị đơn vắng mặt nên Tòa án lập biên bản không tiến hành hòa giải được và đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
+ Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đều tuân theo đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án theo quy định tại các Điều 21, 28, 35, 39, 48, 51, 63, 68, 70, 71, 72, 171, 173, 179, 220, 234, 239, 248, 260 Bộ luật tồ tụng dân sự năm 2015.
+ Việc giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử: Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 13/2006, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân phường 5, thị xã B, tỉnh Bến Tre cấp ngày 01/6/2006 thì quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông Đ là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính cách không hòa hợp, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, vợ chồng đã sống ly thân, mâu thuẫn không thể giải quyết, nay bà D nhận thấy tình cảm không còn, vợ chồng không còn cuộc sống chung, tình cảm không thể hàn gắn, không còn mục đích hôn nhân nên bà yêu cầu ly hôn với ông Đ. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Đ đến Tòa để hòa giải nhưng ông Đ không đến, điều đó cho thấy ông Đ không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình. Như vậy có cơ sở để xác định mâu thuẫn giữa bà D và ông Đ đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Do đó, căn cứ vào Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 116, 117 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 13/2006, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân phường 5, thị xã B, tỉnh Bến Tre cấp ngày 01/6/2006 thì quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông Đ là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Ông Đ hiện cư trú tại quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, do đó Tòa án nhân dân quận Tân Phú thụ lý, giải quyết vụ án là đúng quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
2. Về thủ tục xét xử vắng mặt các đương sự:
Nguyên đơn - bà Nguyễn Phú Minh D có đơn đề ngày 30/3/2020 yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Ph.
Đối với bị đơn - ông Nguyễn Minh Đ: Tòa án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng triệu tập ông Đ đến Tòa để tham gia phiên họp, hòa giải, xét xử nhưng ông Đ vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Đức theo quy định tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
3. Về yêu cầu của đương sự:
- Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ lời trình bày của bà D và các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện quá trình chung sống giữa bà D và ông Đ phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng quan điểm, tính cách không hòa hợp, từ đó cuộc sống chung không còn hạnh phúc, mâu thuẫn không giải quyết được. Nay bà D xác nhận không còn tình cảm với ông Đ, không còn mục đích hôn nhân nên bà yêu cầu ly hôn với ông Đ để dứt khoát trên pháp lý và sớm ổn định cuộc sống để nuôi con.
Tòa án đã triệu tập ông Đ đến Tòa để tham gia phiên hòa giải, phiên tòa xét xử nhưng ông Đ không đến Tòa mà không có lý do chính đáng, điều đó cho thấy ông Đ không thiết tha trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng và giữ gìn hạnh phúc gia đình.
Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử có cơ sở để xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà D và ông Đ đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, Do đó chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà D là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về quan hệ con chung: Bà D xác nhận bà và ông Đ có 02 con chung tên Nguyễn Nhật N, sinh ngày 06/01/2007 và Nguyễn Hương Nguyệt Q, sinh ngày 27/12/2009. Khi ly hôn bà D yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu về con chung của bà D là có cơ sở và cũng phù hợp với nguyện vọng của các con chung nên chấp nhận.
- Về quan hệ tài sản chung: Bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung: Bà D xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của bà D được Tòa án chấp nhận, nên bà D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 179, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Phúc Minh D.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Phúc Minh D được ly hôn ông Nguyễn Minh Đ.
Quan hệ hôn nhân của bà Nguyễn Phúc Minh D và ông Nguyễn Minh Đ (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 13/2006, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân phường 5, thị xã B, tỉnh Bến Tre cấp ngày 01/6/2006) chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Về quan hệ con chung: Giao bà D trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Nhật N, sinh ngày 06/01/2007 và Nguyễn Hương Nguyệt Q, sinh ngày 27/12/2009. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông Đ do bà D không yêu cầu.
+ Ông Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nuôi con của người đó.
+ Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc người thân thích; Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
+ Khi cần thiết, bà D có quyền yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.
- Về quan hệ tài sản chung: Bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà D xác nhận không có.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Án phí ly hôn là 300.000 đồng do bà D chịu, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà D đã nộp theo Biên lai thu số 0012583 ngày 20/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Bà Nguyễn Phúc Minh Dương, ông Nguyễn Minh Đức được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết bản án. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND quận Tân Phú; - Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, TP. HCM; - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn; - Lưu VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM - THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Tuyết Nhung |