vanban.org

Bản án 200/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên Tuyên án 24/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hù Thị S phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Hù Thị S 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 17/6/2019. Vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hù Thị S - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hù Thị S phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự - Tịch thu tiêu hủy; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
–––––––––––––––
Bản án số: 200/2019/HS-ST
Ngày: 24-10-2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Thủy;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Hải.

Ông Lò Văn Thương.

-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Khá - Kiểm sát viên;

Ngày 24 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 191/2019/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 203/2019/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hù Thị S, tên gọi khác: Không; sinh năm 1975, tại Điện Biên; Nơi cư trú: Bản L, xã M, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Không; dân tộc: H’mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hù A Ph (đã chết) và con bà: Cứ Thị L (đã chết); Năm 1988 sinh sống như vợ chồng với Cứ A Ch (đã chết), Năm 2000 sinh sống như vợ chồng với Cứ A H (đã chết) và có 03 con, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 2001; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17/6/2019, tạm giam từ ngày 19/6/2019 đến nay bị cáo có mặt tại phiên toà.

Ngƣời bào chữa cho bị cáo: Ông Hoàng Tiến Ngọ - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên.

Ngƣời phiên dịch: Ông Lầu A Sình, sinh năm 1994.

Nơi công tác: Phòng tư pháp huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

(Người bào chữa, người phiên dịch có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 17/6/2019, Hù Thị S đi bộ từ nhà ở tại Bản L, xã M, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên ra đường thuộc Bản L, xã M thì gặp 03 người thanh niên (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) đang ngồi ở đường đi, qua trao đổi, thỏa thuận S mua được của 01 trong 03 người thanh niên trong nhóm đó 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng nilon màu hồng với giá 50.000 đồng, mục đích đem về sử dụng và bán lại cho người khác kiếm lời. Mua được heroine, S cất vào túi vải tự tạo đeo trước bụng rồi đi về nhà và lấy một ít Heroine vừa mua được ra sử dụng hết bằng hình thức hít. Khoảng 09 giờ cùng ngày, khi S vừa sử dụng Heroine xong thì có 02 người đàn ông (không rõ tên, địa chỉ) đến nhà S, một người đứng ở ngoài nhà, một người đi vào trong nhà hỏi mua của S 100.000 đồng Heroine, S đồng ý, người đàn ông đưa cho S 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, S nhận và cất tiền vào túi vải tự tạo đeo trước bụng rồi dùng dao lam cắt một cục nhỏ Heroine (không được gói bằng gì) từ gói Heroine đang cât trong túi vải tự tạo ra bán cho người đàn ông đó. Bán xong Heroine, S gói Heroine lại như cũ, cất dùng dao lam vào túi vải tự tạo đeo trước bụng. Hồi 14 giờ cùng ngày, khi Hù Thị S đang ở nhà thì bị Tổ công tác Công an huyện Điện Biên phát hiện, bắt quả tang, thu giữ 01 túi vải tự tạo S đeo trước bụng bên trong túi có 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 01 con dao lam và 01 gói heroine được gói bên ngoài bằng nilon màu hồng, miệng gói buộc thắt nút có khối lượng 0,66 (không phẩy sáu mươi sáu) gam.

Tại phiên tòa bị cáo Hù Thị S đã khai nhận lại toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Mọi lời khai hoàn toàn phù hợp với nội dung vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong và xác định khối lượng lấy mẫu giám định, kết luận giám định, kết luận điều tra....

Kết luận giám định số 675/GĐ-PC09 ngày 26/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Hù Thị S gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine; Khối lượng vật chứng thu giữ của Hù Thị S là 0,66 gam. Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 9, Mục IA, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018; Không hoàn lại đối tượng giám định.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về các kết luận Giám định nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số 186/CT - VKSHĐB ngày 09/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy"; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy 0,66 gam Heroine, trích mẫu 0,18 gam gửi giám định không hoàn lại, là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; Trả lại cho bị cáo số tiền 100.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Tịch thu tiêu hủy 01 túi tự tạo có dây đeo màu đen, có khóa màu tím xanh đã cũ qua sử dụng, 01 dao lam đã cũ. Án phí: Bị cáo Hù Thị S là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, căn cứ Điều 136 BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Bị cáo S được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo S có mặt tại phiên tòa nhất trí với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát, Quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án, Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, mức hình phạt cho bị cáo khởi điểm của khung hình phạt. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Bị cáo sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên đề nghị miễn án phí HSST cho bị cáo.

Bị cáo S không bổ sung gì về lời bào chữa và hoàn toàn nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, không có ý kiến gì tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Hành vi của bị cáo: Khoảng 08 giờ ngày 17/6/2019 bị cáo S đi bộ ra đường thuộc Bản L, xã M, huyện Điện Biên có gặp 03 người thanh niên (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) qua trao đổi S mua được của 1 trong 3 người thanh niên đó 01 gói Heroine với giá 50.000 đồng, S mang về lấy ra sử dụng một ít, cùng ngày S dùng dao lam cắt một cục Heroine rồi bán cho 01 người thanh niên S không biết tên, địa chỉ với giá 100.000 đồng. Số còn lại S cất vào trong túi tự tạo cùng 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 01 dao lam, toàn bộ vật chứng đã bị Công an huyện Điện Biên phát hiện, thu giữ có khối lượng 0,66 gam. Hành vi của bị cáo đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Về tính chất, mức độ gây nguy hiểm cho xã hội thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo đã tiếp tay cho những người khác chuyên buôn bán các chất ma túy ngày càng phát triển, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng tới trật tự trị an, an toàn trong xã hội trên địa bàn huyện Điện Biên nói riêng cũng như địa bàn tỉnh Điện Biên nói chung. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình gây ra. Nên bị cáo phải bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết nào tăng nặng. Bị cáo sinh ra và lớn lên tại xã M, huyện Điện Biên, không được đi học ở nhà làm kinh tế giúp gia đình. Bị cáo sử dụng ma túy từ năm 2009 cho đến nay. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, song xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, nguồn thu chính từ làm ruộng, bản thân bị cáo sử dụng ma túy. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng các hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về hành vi của bị cáo bị truy tố và các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng huyện Điện Biên và những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng đã được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì, không khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật và được chấp nhận.

. Nguồn gốc số Heroine thu giữ của bị cáo, bị cáo khai mua của một người đàn ông bị cáo không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ. Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xử lý.

. Người đàn ông mua Heroine của bị cáo, bị cáo không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra làm rõ. HĐXX không đặt vấn đề xử lý.

. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy 0,66 gam Heroine, trích 0,18 gam gửi giám định không hoàn lại, vật chứng còn lại: 0,48 gam Heroine là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; Tịch thu tiêu hủy 01 túi tự tạo có dây đeo màu đen, có khóa màu tím xanh đã cũ qua sử dụng, 01 dao lam đã cũ. Số tiền 100.000 đồng bị cáo khai bán số tiền này bán Heroine cho 01 người đàn ông không biết tên, địa chỉ, do không chứng minh được người mua có tên, tuổi địa chỉ rõ ràng nên HĐXX tuyên trả lại cho bị cáo số tiền 100.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

. Án phí: Bị cáo Hù Thị S là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, căn cứ Điều 136 BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Bị cáo S được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

1. Tuyên bố: Bị cáo Hù Thị S phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

2. Xử phạt bị cáo Hù Thị S 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 17/6/2019.

3. Vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự

- Tịch thu tiêu hủy: Tịch thu tiêu hủy 0,66 gam Heroine, trích 0,18 gam gửi giám định không hoàn lại, vật chứng còn lại: 0,48 gam Heroine là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; Tịch thu tiêu hủy 01 túi tự tạo có dây đeo màu đen, có khóa màu tím xanh đã cũ qua sử dụng, 01 dao lam đã cũ.

- Trả lại cho bị cáo số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

(Toàn bộ vật chứng của vụ án đã được cơ quan Điều tra Công an huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên theo Biên bản bản giao nhận vật chứng ngày 12/9/2019).

4. Án phí: Bị cáo Hù Thị S là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, căn cứ Điều 136 BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Bị cáo S được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/10/2019)./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND t. Điện Biên;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA -VKSND h. Điện Biên

- Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ Công an h. ĐB

- Nhà tạm giữ CA huyện Điện Biên

- Trại giam;

- CQĐT CA huyện ĐB.

- Bị cáo

- Người bào chữa.

- Cơ quan THA. HS Công an huyện Điện Biên

Vũ Thị Thanh Thủy

- Thi hành án Dân sự h. Điện Biên

- Phòng KTNV và THA – TAND tỉnh Điện Biên

- Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên;

- L u hå sơ THA.

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu bộ phận.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

HỘI THẨM NHÂN DÂN

Lò Văn Hải

Vũ Thị Thanh Thủy

Lò Văn Thƣơng

Cỡ chữ