vanban.org

Bản án 200/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội Tuyên án 19/12/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Đặng Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"

Xử phạt: Đặng Văn T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/10/2018. Về vật chứng: áp dụng Điều 106 - BLTTHS 2015: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chât ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Đặng Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH TRÌ
TP HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

------------
Bản án số: 200/2018/HSST
Ngày: 19/12/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, TP HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Mai Thu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Văn Thang

2. Ông Nguyễn Đình Thọ

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Thị Thu Hiền - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Thanh trì, TP Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên tòa: Bà Tô Thu Thủy - Kiểm sát viên sơ cấp

Ngày 19 tháng 12 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 220/2018/HSST ngày 06/12/2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: ĐẶNG VĂN T - Sinh ngày 14/4/1977 tại Thái Bình

ĐKHKTT: thôn B, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình

Nơi ở: không nơi cư trú nhất định

Quốc tịch: Việt Nam

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không

Nghề nghiệp: Tự do

Trình độ văn hoá: 6/12

Con ông: Đặng Văn T1

Con bà: Hoàng Thị M

Có vợ là Nguyễn Thị N (đã ly hôn).

- Tiền sự: không

- Tiền án: Ngày 27/10/2009, tại bản án hình sự sơ thẩm số 139/2009/HS-ST, TAND thành phố T, tỉnh Thái Bình xử phạt 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/9/2009 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Ra tù về địa phương ngày 10/5/2011 (đã xóa án tích).

(Danh chỉ bản số 0414 do công an huyện T lập ngày 12/10/2018)

Bắt quả tang và tạm giữ ngày 11/10/2018, tạm giam ngày 20/10/2018.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 20 phút ngày 11/10/2018, Đặng Văn T đi xe ôm từ phố Lê Văn T quận T đến khu vực Bệnh viện KC thuộc thôn Y, xã T, huyện T, TP Hà Nội rồi gặp và mua của một người đàn ông tên H (T không biết địa chỉ) 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng. Mua xong T cất giữ gói ma túy vào túi áo ngực bên trái phía trước và chuẩn bị đi về thì bị Tổ Công tác thuộc Phòng điều tra tội phạm về ma túy - Công an TP Hà Nội kiểm tra hành chính và đưa về trụ sở Công an đồn C - Công an huyện T. Tại đây đã phát hiện và thu giữ tại túi áo ngực bên trái của T 01 gói giấy bạc bên trong chứa chất bột màu trắng và tạm giữ của T 01 điện thoại do động nhãn hiệu OPPO màu trắng hồng.

Bản kết luận giám định số 8207/KLĐG-PC54 ngày 25/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội kết luận: chất bột màu trắng bên trong gói giấy bạc là ma túy loại Hêroin có khối lượng 0,160 gam.

Đối với người đàn ông tên H đã bán ma túy cho T, qua điều tra xác định là Lê Xuân H (SN 1977, HKTT: số 7, ngõ 469 phố M, phường V, quận H, Hà Nội) nhưng không có căn cứ xác định Hòa đã bán ma túy cho T nên Cơ quan Điều tra không xử lý đối với H.

Đối với 01 điện thoại OPPO đã thu giữ của T qua điều tra xác định T không sử dụng vào việc phạm tội nhưng tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định.

Tại bản cáo trạng số 202/CT-VKS-TT ngày 30/11/2018, VKSND huyện Thanh Trì truy tố Đặng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 - BLHS 2015.

Tại phiên toà: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận nội dung bản cáo trạng truy tố đúng hành vi bị cáo đã thực hiện, thấy được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, hối hận và đề nghị Tòa xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện VKSND huyện Thanh Trì giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

- Xử phạt bị cáo từ 14 tháng đến 20 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày 11/10/2018.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: tịch thu tiêu hủy 01 gói Hêroin có khối lượng 0,160 gam (cơ quan giám định đã trích 0,040 gam; còn lại 0,12 gam); trả lại cho bị cáo 01 điện thoại OPPO màu trắng hồng đã thu giữ của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Ngày 11/10/2018, tại khu vực Bệnh viện KC thuộc thôn Y, xã T, huyện T, TP Hà Nội; Đặng Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Hêroin có khối lượng 0,160 gam với mục đích để sử dụng. Như vậy hành vi của Đặng Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 - BLHS 2015. VKSND huyện Thanh Trì truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ pháp lý. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người đã có tiền án về tội phạm ma túy, tuy đã được xóa án tích nhưng thể hiện là người có nhân thân xấu. Do vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung. Khi lượng hình có xem xét tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải - để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: xét bị cáo đang bị tạm giam nên không áp dụng hình phạt phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: đối với vật chứng là 01 gói Hêroin có có khối lượng 0,160 gam (cơ quan giám định đã trích 0,040 gam; còn lại 0,12 gam) là chất độc hại Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại OPPO màu trắng hồng xét không liên quan đến tội phạm thì trả lại cho bị cáo

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 136 - BLTTHS 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án

Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 333 - BLTTHS 2015.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Đặng Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 - BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017

Xử phạt: Đặng Văn T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/10/2018.

Về vật chứng: áp dụng Điều 106 - BLTTHS 2015:

- Tịch thu tiêu hủy 01 gói Hêroin có có khối lượng 0,160 gam (cơ quan giám định đã trích 0,040 gam; còn lại 0,12 gam) (hiện đang lưu giữ tại Cơ quan Thi hành án dân sự huyện T theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/12/2018).

- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại OPPO màu trắng hồng đã cũ có số IMEI 1: 869052038744737, số IMEI 2: 869052038744729 (hiện đang lưu giữ tại Cơ quan Thi hành án dân sự huyện T theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/12/2018)

Về án phí: Điều 136 - BLTTHS 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

Về quyền kháng cáo: áp dụng các Điều 331, 333 - BLTTHS 2015:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Về việc thi hành án: áp dụng Điều 26 - Luật Thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định của tòa án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Cỡ chữ